CHƯƠNG I KHOA HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG LUC LUQNG SAN XUAT 1. MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG 1. Các khái niệm về khoa học, công nghệ * Khái niệm khoa học Khái niệm khoa học đã xuất hiện tử rất sớm, đó là một quá trình nhằm nghiên cứu, khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới. về tự nhiên và xã hội.
Trong lịch sử có rắt nhiều quan niệm khác nhau về khoa học. Trong từ điển Triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ 1975 viết: ‘hoa hoe - lình vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những kiến thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gỗm tắt cả những điều kiện và những sêttễ cha sân xuất này”) Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội 2002 viết: “Khoa học là hệ thống trí thức vẻ tự nhiên, xã hội và ae duy duge tích lấy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiển, được thể hiện bằng khái niệm phán đoán, học thuyết”. Ngoài ra, theo quan điểm triết học Mác - Lénin, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội 'Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về khoa học: Khoa học là một hệ thống tr thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống trí thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội Ngoài ra tủy vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận của từng ngành, bộ môn khác nhau thì khái niệm khoa học cũng được tìm hiểu ở các góc độ khác nhau: 12 ~ Xem xét khoa học là một hoạt động đặc thi.
Trước đây, hoạt động khoa học còn mang tính đơn lẻ, cá biệt của một cá nhân hay một nhóm trong xã hội kém phát triển. Nhưng ngảy nay khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao. Đó là một dạng. xã hội đặc biệt, hướng vào những việc tìm kiếm những điều chưa biết, là hoạt động gian khổ, có nhiều rủi ro.
Trong xã hội phát triển hiện nay, hệ thống, mức độ phát triển khoa học ngày cảng tăng cả về số lượng và chất lượng. Khoa học đã trở thành một lĩnh vực không thể thiếu trong đời sống xã hội, mà nó cỏn là điều kiện tiên quyết giúp cho quá trình phát triển xã hội ngày một hiện đại hơn. Khoa học đã sáng tạo ra các trí thức mới về quy luật của thế giới, về giải pháp, phương hướng tác động vào thế giới khách quan, sing tạo ra các sự vật mới, phục vụ vào mục tiêu tồn tai và phát triển bản thân con người và xã hội loài người. ~ Xem xét khoa học là một hệ thông trí thức của nhân loại về tự nhiên, xã hội và con người.
Ngay từ khi xuất hiện, nhu cầu duy trì sự sống và nhận thức thể giới xung quanh con người phải lao động chính vì thể sự hiểu biết của con người về thể giới khách quan và vẻ chính bản thân mình ngày càng phong phú nó trở thành một hệ thống trỉ thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoa học được xem xét với tư cách là hoạt động tỉnh thần của con người hướng đến việc sản xuất trí thức về tự nhiên, xã hội và vẻ chính bản thân nhận thức. Nhưng mục tiêu là đạt tới chân lý, khám phá các quy luật khách quan nhờ khái quát các sự kiện hiện thực trong mối liên hệ qua lại của chúng, đoán nhận xu hướng phát triển của hiện thực trên những quy luật về khám phá đó, chính vì vậy nó còn là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được đem lại bởi hoạt động nhận thức của con người. 13 ‘Tom lai trong quan nigm hign nay, khoa học vừa là một loại hình hoạt động tỉnh thần sáng tạo vừa là kết quả của hoạt động này.
Với tính cách là hoạt động tỉnh thần, khoa học là quá trình con người hướng vảo việc sản xuất ra tri thức về tự nhiên, xã hội vả tư duy. Với tính cách kết quả của hoạt động. tỉnh thần, khoa học là tổng thể tri thức dưới dạng các khái niệm kết thành hệ thống có tính toàn vẹn trên cơ sở những nguyên tắc xác định. Tập hợp những thông tin rời rạc, lộn xộn mả chưa được tô chức mức ở độ nhất định và chưa.
có tính hệ thống, thì chưa phải là khoa học. “Trong mỗi bộ môn khoa học nó được thống nhất với nhau giữa các yếu tố: Khách thé và chủ thẻ. Trong đô khách thể khoa học tức là đỗi tượng là cái mà nhà khoa học nghiên cứu nhằm vạch ra tính chất, cấu trúc, xu hướng của nó bao gồm hệ thống, phương pháp và thủ thuật chủ yếu do đối tượng quy định. Còn clui thé khoa hoc tire nha khoa học là thành tổ chủ yếu dưới các cấp độ như cá nhân, nhóm hay là công đồng.
Sự tồn tại của một khoa học được thể hiện ở các phương điện: Một lĩnh vực hoạt động sản xuất trì thức của con người ngày càng thâm nhập và trở thành yếu tô quan trọng của văn hóa; một thiết chế xã hội củng toàn bộ cơ sở hạ tằng của nó như tô chức khoa học, nguồn tải chính, thiết bị và phương tiên nghiên cứu; một quá trình nhận thức mà kết quả của nó là những trí thức hợp nhất thành hệ thông hữu cơ đang phát triển. Một khoa học nó bao gồm năm tiêu chí sau: Thứ nhát, lý thuyết khoa học là hệ thống trí thức dưới dạng phạm trù, khái niệm quy luật gồm bộ phận riêng và bộ phận tiếp nhận tir tri thức khác; £h ai, có một phương pháp luận và lý thuyết về phương pháp và hệ thống phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn, xây dựng, sử dụng phương pháp gồm phương pháp luận riêng và phương pháp luận tiếp nhận từ khoa học khác; zh ba, có mục đích ứng dụng trực tiếp hoặc gián tiếp, xác định hoặc chưa xác định; „# ø, có một lịch sử nghiên 4 cứu, chính thức xuất hiện vả đi vào phát triển song không phải khoa học nào cũng thế; vả thứ năm, có đối tượng nghiên cứu là những thuộc tính, yếu tố, quan hệ bản chất của khách thể ma khoa học đó quan tâm phát hiện và cải biến Như vậy với tính cách là lĩnh vực hoạt động tỉnh thần sản xuất ra hệ thống các trí thức, khoa học có thể phân chia thành từng nhóm, ngành khác nhau theo tiêu chí nhất định. ~ Xem xét khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Khoa học được quy định bởi các yếu tố của tồn tại xã hội, đồng thời nó có tác động mạnh mẽ trở lại đối với đời sống kinh tế xã hội và tồn tại xã hội nói chung.
Chẳng hạn như, sự thay đổi của khoa học chính là nguyên nhân ban đầu của sự thay đổi về phương thức sản xuất trong một xã hội, mỗi thời đại có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định, chính khoa học lại là tiền đề tiên quyết cho phương thức đặc trưng của thời đại đó. Hay nói cách khác thúc đây khoa học chính là thie diy phương thức sản xuất mới tiền bộ hơn Ngoài mỗi quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội, khoa học cỏn có mối quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác nhau. Chính khoa học là tiễn để cơ sở cho việc hình thành và phát triển các hình thái ý thức xã hội khác nhau đó. Ngược lại, chính các hình thái ý thức xã hội khác nhau đó lại tác động ngược vào việc khám phá, truyền bá, ứng dụng các trí thức khoa học vào sự phát triền chung cúa xã hội.
Ngoài ra xét về khoảng cách với thực tiền xã hội hay là đối tượng và phương pháp tri nhận trí thức thì có những cách đánh giá khác nhau qua các cách nhìn nhận đó. Chẳng hạn như xét về khoáng cách với thực tiễn xã hội có thể chia thành những khoa học lý thuyết nhằm vạch ra những quy luật và các nguyên tắc cơ bản cúa hiện thực ma không định hướng trực tiếp vảo xã hội. 15 Còn việc xét về đối tượng và phương pháp trí nhận trí thức chúng ta cô thể chia khoa học thành các khoa học về tự nhiên, các khoa học về xã hội, các khoa học về nhận thức tư duy, các khoa học về công nghệ. Mỗi nhóm lại chia thành các nhóm nhỏ để tiện trong việc thực hiện phương pháp tri nhận tri thức trong khoa hoc.
* Khái niệm công nghệ Công nghệ (có nguồn gốc từ /eeinologia, hay tezvoÀoyt, trong tiếng Hy Lap; techne cé nghia là thủ công và logiz có nghĩa là “châm ngôn”) là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ vả mưu mẹo của con người. Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể hiểu được: Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đẻ; các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vẫn để; các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau; sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ công nghệ, cụ thể “Theo định nghĩa của tổ chức phát triỀn công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) viết: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các công trình nghiên cứu, và sử dụng nó có hệ thống, có phương pháp. Công nghệ là sản phẩm tình hoa của tri tug mà con người sáng tạo ra cho xã hội và là công cụ chủ yêu để con người đạt được mục đích cẩn thiết, là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, tận dụng tài nguyên thiên nhiên, cải thiện điều kiện làm việc ”.
“Theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Binh Dương viết: “Công nghệ là hệ thống kiến thức vẻ quy trình và kỳ thuật để chế biến nguyên vật liệu và thông tin.