Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN. Chương 2: Thực trạng của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình hiện nay. Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Thái Bình theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KH&CN 1.
Những vấn đề cơ bản về tổ chức khoa học và công nghệ 1.1 Tổ chức Một tổ chức thường được định nghĩa là hai hay nhiều người làm việc, phối hợp với nhau để đạt kết quả chung, hoạt động của tổ chức là một quá trình đề ra những sự liên hệ chính thức giữa những con người và tài nguyên để đi đến mục tiêu. Chức năng của tổ chức là tiến hành phối hợp các nỗ lực qua việc thiết lập một cơ cấu về cách thực hiện công việc trong tương quan với quyền hạn. Nói một cách khác, chức năng tổ chức là tiến trình sắp xếp các công việc tương đồng thành từng nhóm, để giao phó cho từng khâu nhân sự có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân sự tùy theo công việc được giao phó. Hoạt động khoa học và công nghệ Theo Luật KH&CN được Quốc hội thông qua số 21/2000/QH10 ngày 09/6/2000: hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN.
Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững KT-XH. Trong hoạt động KH&CN, phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: - Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh; - Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; 14 z - Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ; - Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân; - Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Hoạt động khoa học là lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp vì nó khám phá ra các tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó sáng tạo ra các nguyên lý giải pháp mới hay sáng tạo ra các mô hình kỹ thuật quản lý xã hội mới phục vụ cho con người cải tạo thế giới, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa.
Hoạt động khoa học tạo nên tính sáng tạo, tính mới, mang tính rủi ro cao và đặc biệt vai trò cá nhân trong hoạt động khoa học rất lớn. Thực tiễn sản xuất, hoạt động xã hội đặt ra nhiều vấn đề cho khoa học giải quyết và đòi hỏi khoa học đưa ra những căn cứ, những nguyên lý giải pháp hay mô hình để phát triển tri thức, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội phục vụ cho xã hội. Hoạt động công nghệ là tất cả những hoạt động liên quan đến các quá trình nghiên cứu - triển khai sản xuất và thị trường áp dụng công nghệ. Nội dung chính của hoạt động công nghệ là biến các tri thức tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thành những yếu tố của sản xuất nhằm nâng cao sức sản xuất của xã hội và con người.
Hoạt động công nghệ là hoạt động tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới gồm các bước triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Một trong các cách phân loại nghiên cứu khoa học là phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu. Theo đó nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
15 z Phát triển công nghệ là hoạt động tiếp theo nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Sản phẩm của hoạt động này mới chỉ là những vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi về kỹ thuật để áp dụng vào một điều kiện kinh tế hoặc xã hội nào đó. Ngoài ra còn phải nghiên cứu những tính khả thi khác, như khả thi về tài chính, về kinh tế, về môi trường, về xã hội và chính trị… Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu k hoa học và phát triển công nghệ 1 : Nghiên cứu cơ bản thuần túy Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu nền tảng Nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu Nghiên cứu ứng dụng chuyên đề Tạo mẫu sơ khởi (Prototype) Triển khai Làm pilot để tạo quy trình Sản xuất thử ở Serie 0 Hình 1.
Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là tìm tòi những sự vật mà người nghiên cứu chưa hề biết. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học mà người nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu cần phải quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận về nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Các đặc tính cơ bản của nghiên cứu khoa học là tính mới, tính kế thừa, khoa học sáng tạo, khách quan và khả thi. Sản phẩm KH&CN mang tính thông tin.
Mặt khác, trong nghiên cứu KH&CN cũng có thể xẩy ra rủi ro, phi kinh tế. 1: Theo PGS TS Vũ Cao Đàm (2009), Giáo trình Khoa học luận đại cương 16 z 1. Tổ chức khoa học và công nghệ a. Các loại hình tổ chức KH&CN Theo Luật KH&CN, các tổ chức KH&CN bao gồm: - Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển); - Trường đại học, học viện, trường cao đẳng ; - Tổ chức dịch vụ KH&CN.
Trong đó các tổ chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới các hình thức: viện nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác. Dịch vụ khoa học Triển khai thực và công nghệ nghiệm Hoạt động khoa học Phát triển công nghệ Sản xuất thử nghiệm và công nghệ Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu ứng dụng Hình 1. Hoạt động KH&CN – Cơ sở để phân loại tổ chức KH&CN 2 Căn cứ vào mục tiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, các tổ chức nghiên cứu và phát triển được phân thành: + Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia; 2: Theo bảng phân loại hoạt động KH&CN ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 04/9/2008 của Bộ trưởng Bộ KH&CN 17 z + Tổ chức nghiên cứu và phát triển của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp bộ); tổ chức nghiên cứu và phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp tỉnh); tổ chức nghiên cứu và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương. + Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp cơ sở.
Tổ chức nghiên cứu và phát triển là một bộ phận thuộc các tổ chức KH&CN. Dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ của các tổ chức KH&CN mà người ta phân loại như sau: * Phân loại theo lĩnh vực KH&CN: Khoa học tự nhiên; khoa học kỹ thuật (KH&CN); khoa học xã hội và nhân văn; khoa học nông nghiệp; khoa học y dược học. * Phân loại theo các hoạt động KH&CN: Nghiên cứu và phát triển (R&D); Chuyển giao công nghệ; Dịch vụ KH&CN. * Phân loại theo chủ thể sở hữu: Tổ chức KH&CN thuộc khu vực Nhà nước; Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân; Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tập thể; Tổ chức KH&CN thuộc khu vực đa quốc gia.
Nguyên lý hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ Theo nguyên lý chung về tổ chức, tổ chức KH&CN được tạo ra nhằm thực hiện mục tiêu của hoạt động KH&CN. Tổ chức KH&CN hoạt động theo Luật KH&CN và các quy định có liên quan. Theo Luật KH&CN, mục tiêu của hoạt động KH&CN là: - Xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; - Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng con người mới, góp phần phát triển nhanh và bền vững KT-XH, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng an ninh.
18 z XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU CỦA TỔ CHỨC QUY ĐỊNH CHỨC a. Các mục tiêu phải lập thành 1 hệ thống hỗ trợ NĂNG nhau: - Các công việc phải - Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, làm (cụ thể) để đạt - Nhiệm vụ của tổ chức, mục tiêu vạch ra. - Mục tiêu chiến lược dài hạn của tổ chức, - Yêu cầu người làm - Các mục tiêu cụ thể, tổ chức: Phải có - Các mục tiêu của từng bộ phận trong tổ chức, hiểu biết, hiểu quy - Các mục tiêu cá nhân. trình công nghệ.
Các mục tiêu phải mang tính xác đáng (hội - Chức năng của tổ nhập đủ các yếu tố định lượng, định tính và khả chức là “cỗ máy”. thi), sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên. BỐ TRÍ CÁN BỘ ĐÚNG YÊU CẦU XÂY DỰNG BỘ MÁY TỔ CHỨC - Bố trí người vào các tổ chức biên - Khung tổ chức cần thiết; sơ đồ tổ chế.