CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Một số khái niệm về FDI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. [Luật Đầu tư; 2020] - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
[Luật Đầu tư; 2020] Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF,1997), FDI được hiểu là: “Một hình thức đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư (doanh nghiệp, cá nhân) ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư”. Điều này xuất hiện trên phương diện IMF cho rằng đây là những hoạt động của các nhà đầu tư khi đầu tư vào nền kinh tế và mang lại những? lợi nhuận. Theo Uỷ ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD, 1998) dưới góc độ sở hữu cho rằng: Luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. Điều này được đặt ra trong bối cảnh việc cung cấp vốn của các nhà đầu tư vào các nền kinh tế thông qua các doanh nghiệp và đảm bảo cho quá trình thu hồi lợi nhuận nói chung.
WTO qua hoạt động nghiên cứu của mình đã đưa ra nhận định như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Như vậy phương diện quản lý là để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong trường hợp này nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Trước đây theo Luật đầu tư 2005 của Việt Nam tại khoản 12 Điều 3 quy định: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” và “Đầu tư trực tiếp là 7 hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
[Luật Đầu tư; 2005] Tuy nhiên, hiện nay theo Luật đầu tư 2020 thì đã không còn quy định về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể đầu tư nước ngoài là gì, nhưng căn cứ vào bản chất của hoạt động này, chúng ta có thể giải thích như sau: Đầu tư nước ngoài được hiểu là việc tổ chức cá nhân trong hoặc ngoài nước tiến hành góp vốn việc đầu tư vào Việt Nam và có tỉ lệ vốn đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài. Theo khoản 13 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, hoạt động đầu tư ra nước ngoài được định nghĩa là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn đầu tư này để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ở nước ngoài. [Luật Đầu tư; 2020] Vậy FDI là hoạt động đầu tư do các cá nhân và tổ chức kinh tế nước ngoài tự mình hoặc cùng các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh.
Hoạt động đầu tư nước ngoài thường được thực hiện thông qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới thì các yếu tố quan trọng đã và đang góp phần xây dựng và phát triển các quốc gia trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài hay gọi vốn đầu tư nước ngoài được hiểu là hoạt động kêu gọi nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài cho các dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể. Mục đích của việc kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài là nhằm có nguồn vốn để phát triển dự án, đẩy mạnh phát triển kinh tế.
[Nguyễn Mạnh Hùng, 2014] Thu hút vốn FDI là hệ thống các biện pháp mà chính quyền của một quốc gia hoặc địa phương thực hiện để hấp dẫn các chủ đầu tư đến từ nước ngoài đem nguồn vốn và công nghệ vào quốc gia hoặc địa phương để tổ chức thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận hoặc lợi ích lớn hơn so với đầu tư tại quốc gia xuất phát của họ. Thu hút vốn FDI vào khu công nghiệp là hoạt động của vùng hoặc của các địa phương 8 trong vùng cùng phối hợp thực hiện để có được nhiều hơn các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng (hoặc các địa phương trong vùng). Khu công nghiệp Trong đó, vai trò các khu công nghiệp đã đặc biệt có vị trí và lợi thế đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế của các quốc gia. Vậy khái niệm về KCN được hiểu như thế nào? Trong thực tiễn thì khái niệm về KCN đã được xuất hiện từ rất lâu từ cuối thế kỷ XIX khi cuộc cách mạng công nghiệp của thế giới được xuất hiện và nhân rộng nói chung.
Song dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau để làm rõ vấn đề này. Đa phần người ta? thường quan niệm và hiểu rằng KCN được hiểu là một khu vực mang tính độc lập trong một không gian nhất định. Trong KCN có các doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh hàng hóa và KCN được quản lý bằng một chế độ riêng biệt theo quy định pháp luật của các quốc gia khác nhau và là một loại hình kinh tế đặc biệt. Theo UNIDO trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật xây dựng Luật KCN cho Việt Nam và được ghi rõ trong tài liệu khu chế xuất tại các nước đang phát triển (Export Prpcessing Zone in Developing Countries) năm 1990 ghi nhận: KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần còn lại của nước chủ nhà.
Trong đó, đặc biệt KCX cho phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế. [Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu, 2010] Khái niệm về KCN được quy định trong Khoản 11, Điều 3, Luật Đầu tư 2014 thì: " Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp". [Luật Đầu tư 2014] Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 22/5/2018 quy định về KCN và khu kinh tế cũng đưa ra khái niệm KCN như sau: “Khu công nghiệp là khu vực 9 có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. [Chính Phủ, 2018] Tóm lại khái niệm KCN theo qui định hiện hành của Việt Nam là những khu vực đặt các cơ sở sản xuất, nhà máy phục vụ việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ với quy mô lớn.
Sự cần thiết và nội dung của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp 1. Sự cần thiết của vốn FDI - Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá. Hiện nay các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn như: mức sống thấp, khả năng tích luỹ không cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, công nghệ kỹ thuật chậm phát triển, vốn đầu tư vào các khu công nghiệp còn thấp nên kém hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, ít có điều kiện để mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới còn yếu kém…[Tiến sĩ Phạm Xuân Giang, 2019] Đối với nguồn vốn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có được một số vốn ưu đãi nhưng lại đi kèm với một số ràng buộc về chính trị, xã hội. Đối với vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe hơn nữa phải chịu lãi xuất cao.
Đối vốn FDI là nguồn vốn đuợc đánh giá có hiệu quả nhất trong giai đoạn đầu để tiến hành công nghiệp hoá của các nước đang phát triển. - Thứ hai, Về công nghệ và kỹ thuật còn lạc hậu và thiếu thốn ở các nước đang phát triển. Thông qua các dự án vốn FDI, nước tiếp nhận đầu tư được tiếp nhận những công nghệ và kỹ thuật mới, hiện đại hơn, góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp. Đồng thời, tạo ra các điều kiện kinh tế kỹ thuật cho việc thực hiện cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
[Tiến sĩ Phạm Xuân Giang, 2019] - Thứ ba, các dự án FDI có thể tạo ra nhiều việc làm cho đa số các lao động và các dịch vụ tương ứng. Thông qua việc các dự án thu hút vốn FDI, có thể làm đội ngũ cán bộ của nước tiếp nhận đầu tư qua việc tham gia vào hoạt động của liên 10 doanh mà học hỏi nhiều hơn về năng lực quản lý cũng như các chuyên môn phù hợp với các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hơn từ đó hình thành một lực lượng công nhân kỹ thuật có chuyên môn cao góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách… - Thứ tư, thu hút vốn FDI có các điều kiện cần thiết cho việc tạo lập một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công nghiệp hoá với các nước đang phát triển, tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế…Hình thành được khu công nghiệp chủ lực và tạo ra các điều kiện cơ bản cho tiến trình công nghiệp hoá.