Chương 1. Một số vấn đề Lý luận về ĐTNN và pháp luật về ĐTNN tại Việt Nam Chương 2. Thực thi pháp luật ĐTNN – biện pháp thúc đẩy ĐTNN tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước điển hình Chương 3. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật ĐTNN nhằm thúc đẩy ĐTNN tại Việt Nam.
4 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐTNN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐTNN TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, vai trò và các hình thức ĐTNN tại Việt Nam 1. Khái niệm ĐTNN Để có thể làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, trước hết cần làm rõ khái niệm ĐTNN, các hình thức, phương thức của ĐTNN. Trong lịch sử thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện từ thế kỷ thứ XVI.
Các nước tư bản phát triển nhất thời kỳ đó như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã đầu tư vốn vào các nước châu Á, châu Phi. để mở đồn điền, khai thác khoáng sản, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển ngày càng có phạm vi, quy mô lớn hơn với những hình thức ngày càng phong phú hơn. Trong thế kỷ thứ XIX, các nước tư bản phát triển đã tích lũy được những khoản tư bản khổng lồ.
Đó là tiền đề quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản. Theo nhận định của V. Lênin trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản", thì xuất khẩu tư bản là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tức chủ nghĩa tư bản độc quyền. Lênin cho rằng, "chủ nghĩa tư bản tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài vào những nước lạc hậu.
Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ". Khoa học kinh tế đã chỉ ra rằng, đó là một hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan. Khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài. Đây chính là quá trình phát triển của sức sản xuất xã hội, đến độ vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, theo quy luật sẽ hình 5 z thành quy mô sản xuất xuyên quốc gia.
Để tăng thêm lợi nhuận, các nhà tư bản ở các nước phát triển phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài, thời gian đầu thường là vào các nước lạc hậu hơn, vì ở đó các yếu tố đầu vào của sản xuất còn rẻ, lợi nhuận thu được thường cao hơn. Khi đưa ra "Chính sách kinh tế mới" V. Lênin đã cho rằng, những người cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản thông qua hình thức "tư bản nhà nước". Theo quan điểm này, nhiều nước đã "chấp nhận" phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, vì như thế có thể đi nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn để mua lại kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
Mặt khác, mức độ "bóc lột" của các nước tư bản cũng còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của các nước tiếp nhận tư bản. Nếu như trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, thì ngày nay, các nước nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo pháp luật, sự quản lý của chính phủ nước sở tại và thông lệ quốc tế. Lý luận và thực tiễn về quá trình vận động, phát triển kinh tế đã khẳng định nền kinh tế một quốc gia muốn phát triển phải có đầu tư. Đầu tư của Việt Nam được hình thành từ bốn nguồn cơ bản: đầu tư của khu vực nhà nước, khu vực tư nhân trong nước, ĐTNN và viện trợ phát triển chính thức (ODA).
Hiện nay, việc thu hút đầu tư trong nước của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém nên chưa khai thác và tận dụng được hết hiệu quả các nguồn lực trong nước. Bên cạnh đó, nguồn viện trợ chính thức cũng đang bị cắt giảm đối với các nước đang phát triển khó có khả năng trả nợ. Vì vậy, việc tập trung thu hút vốn ĐTNN được xem là một giải pháp để các nước này khắc phục vấn đề thiếu vốn đầu tư cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Vậy, ĐTNN là gì? Cho tới nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về 6 z ĐTNN.
Các khái niệm này ở các góc độ khác nhau, với cách tiếp cận khác nhau nên không hoàn toàn giống nhau. Theo tác giả William F. Flower cho rằng: đầu tư có nghĩa là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị trong tương lai [19]. Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai. Tuy nhiên, trong phạm vi xem xét khác nhau, khái niệm về đầu tư cũng có những điểm khác nhau. Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựợc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã đưa ra khái niệm ĐTNN như sau: " ĐTNN được hiểu là tất cả những loại giá trị vật chất mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theo pháp luật của nước sử dụng đầu tư". Ở khái niệm này, ĐTNN được hiểu với nghĩa rất hẹp chỉ bao gồm các giá trị vật chất, còn các loại tài sản vô hình thì lại chưa được đề cập đến.
Trong tài liệu Hội thảo về thương mại và phát triển của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu rộng hơn khái niệm trên: "Đầu tư với mục đích thiết lập các quan hệ kinh tế 7 z bền vững với một công việc kinh doanh, đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với quản lý của việc đầu tư ấy". Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, thì đầu tư được hiểu là “Đầu tư là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên nước này do các công dân hoặc công ty của nước bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức như một công ty hoặc một doanh nghiệp, cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền trong hợp đồng…. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo khái niệm này, đã là đầu tư thì phải bỏ vốn, chính là các tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép, như vậy tất cả các nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, quan niệm này lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi. Cũng có quan điểm cho rằng đầu tư là “việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai", với quan niệm này đã nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được lợi ích trong tương lai nhưng lại chưa phản ánh chủ thể mong muốn thu được lợi ích trong tương lai. Xét trên góc độ kinh tế, đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai. Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêm lợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể.
Đối với toàn bộ nền kinh tế, chính là tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể 8 z cho toàn xã hội. Đầu tư là phải ứng ra một lượng vốn nhất định và được sử dụng trong tương lai, do đó đầu tư luôn gắn với rủi ro. ĐTNN là sự dịch chuyển tài sản như tiền, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Vốn FDI là một trong những kênh đầu tư của các nhà ĐTNN.
Theo quy định của Luật Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Từ các khái niệm cơ bản trên, kết hợp với bản chất, động cơ, đặc điểm, mục đích và giải pháp để đạt được mục đích của nhà đầu tư, chúng ta có thể hiểu tổng quan về ĐTNN như sau: ĐTNN là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi. Ở đây, cũng cần lưu ý rằng để có quyền tham gia kiểm soát các quyết định quản lý của cơ sở sản xuất, kinh doanh, các nhà đầu tư cần phải có một lượng vốn góp đủ lớn theo Luật đầu tư của nước sở tại.