Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THUC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA DOI GIAM NGHÈO Doi nghèo, XDGN không còn là van dé của riêng một quốc gia nào. Nó đã trở thành vấn đề nóng có tính chất toàn cầu trong giai đoạn hiện nay; là chủ đề luôn được Liên hợp quốc, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trong và ngoài nước cũng như các nhà quản lí, các nhà khoa học hết sức quan tâm. Sự quan tâm đó được thê hiện bởi sự ra đời một hệ thống lí luận, hàng loạt những công trình nghiên cứu, những thể nghiệm và nhiều bài học thực tiễn, trong đó có cả những bai học đắt giá. Đó cũng là tat cả hành trang cần thiết để có thê giải quyết một cách hiệu quả vấn đề đói nghèo đã và đang diễn ra vô cùng phức tạp như hiện nay.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Xuất phát từ những đòi hỏi trên đây, nhiều nhà kha học, nhiều nhà hoạt động thực tiễn đã đi vào nghiên cứu van dé từ nhiều góc độ khác nhau. Có thé dẫn ra một số công trình khoa học tiêu biểu như: Sự giàu nghèo cua các dan tộc của tác giả David Slandes, giáo sư ưu tú về lịch sử và kinh tế - Đại học Harvard (Hoa Kỳ), được xuất bản lần đầu vào năm 1998. Tác giả đã phân tích một cách toàn diện và sâu sắc toàn cảnh bức tranh giàu nghèo của các dân tộc và nguyên nhân của nó. Ông đã từng đặt vẫn dé “vi sao một số giàu đến thế mà một số lại nghéo dén thé”.
Đặc biệt, chương trình XDGN đã được nghiên cứu va đưa vào nội dung hoạt động thường xuyên của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) ở các quốc gia và khu vực cũng như toàn thé giới. Tại Việt Nam, van đề XĐGN được quan tâm bat đầu từ sáng kiến của thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1992. Từ mô hình sáng kiến này, đến nay đã trở thành phong trào sâu rộng, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và đã trở thành chương trình mục tiêu Quốc gia lớn hiện nay. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu về XDGN như các dé tài do Bộ lao động -Thương binh và Xã hội (LD-TB& XH) chủ trì: Doi nghèo ở Việt Nam, Hà Nội, 1993; Nhận diện doi nghèo ở nước ta, Hà Nội, 1993; Xod doi giảm nghèo, Hà Nội, 1996.
Tác giả Nguyễn Thị Hằng, với Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay. (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Với khả năng thâm nhập thực tế và lí luận sắc sảo, tác giả đã đánh giá một cách khá đầy đủ về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, đồng thời mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản về XDGNở nông thôn nước ta. Với tác phẩm Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, (Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội 2001), Lê Xuân Bá và các cộng sự đã phản ánh tổng quan về sự nghèo đói trên thế giới cũng như ở Việt Nam; đưa ra vấn đề xây dựng các tiêu chí đánh giá về nghèo đói hiện nay, đồng thời trình bày một số kết quả nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tinh Quảng Bình, qua đó, đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về XDGN ở Việt Nam.
Tran Thị Hằng với Van dé giảm nghèo trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. (Nhà xuất bản Thông kê. Hà Nội, ấn hành năm 2001). Tác giả đề cập đến những vấn đề thuận lợi và thách thức đối với công cuộc XDGN trong bối cảnh kinh tế thị trường: đặt ra những yêu cầu về đòi hỏi tính năng động, sáng tạo của những nhà quản lí cũng như các chủ thể của các chính sách giảm nghéo.
Lê Quốc Lý với tác phâm Chinh sách xoá đói giảm nghèo - thực trạng và giải pháp, (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội 2012), tác giả đã đưa ra một sỐ lý luận về van đề XDGN; phân tích thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; đề xuất những van dé cần thiết cho việc thực hiện chính sách XDGN ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2020, cùng một số giải pháp XDGN ở Việt Nam trong thời gian tới. Một số luận án, luận văn của các chuyên ngành liên quan trong thời gian qua cũng đã đề cập đến vấn đề này, như: Trần Thị Mai Hương trong Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012, cũng đã đưa ra cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững và các tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng đến vẫn đề Giảm nghèo bên vững ở quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng. Phan Văn Đương cũng đưa ra một số giải pháp Giảm nghèo trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam qua Luận văn thạc sĩ kinh tế tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2013, trên cơ sở đưa ra một số van dé lý luận chung về nghèo đói và tiêu chí xác định chuẩn nghèo, nội dung giảm nghèo ở một đơn vị cấp huyện.
Trên dia ban tỉnh Nghệ An, một số tác giả đã đi vào nghiên cứu một số khía cạnh của van đề trên một số địa bàn cụ thé, đó là: Tran Quốc Chung với dé tài Vai rò Nhà nước đối với giảm nghèo nhanh và bên vững ở các huyện miễn múi vùng cao (Luận văn thạc sĩ 2010, Trường đại học Kinh tế Quốc dân). Tác giả cũng đã trình bày một số vấn đề lý luận về công tác XDGN, đặc điểm các huyện miền núi vùng cao trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, gan với việc thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững trong tình hình hiện nay; làm rõ sự cần thiết và khách quan về việc tăng cường vai trò của Nhà nước đối với công tác XDGN nói chung, trong thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi, vùng cao nói riêng thông qua việc nghiên cứu thực tế tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Với van đề Đầu tu xóa đói giảm nghèo ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2015 (Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2011), tác giả Lê Huy Vinh đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về việc đầu tư cho công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn một huyện miền núi; phân tích thực trạng đói nghèo của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; đề xuất phương hướng và giải pháp xoá đói giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện giai đoạn 2006 - 2015. Tác giả Phạm Thị Lưu Chuyền (học viên cao học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) trong Luận văn thạc sĩ, 2014 cũng đã hệ thống hóa những van đề lý luận cơ bản về quan lý nhà nước trong công tác XĐGN; phân tích, đánh giá thực trạng công tác giảm nghẻo của huyện Nam Dan, tỉnh Nghệ An trong thời gian từ 2006 đến 2014; nêu nguyên nhân của những mặt tốt, mặt hạn chế và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt hơn việc giảm nghèo trong giai đoạn 2015 - 2020 của địa phương qua đề tài Gidm nghèo ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã trình bày khá phong phú những vấn đề về lí luận. Một số tác giả đi sâu phân tích vẫn đề về xóa đói, giảm nghèo ở các địa bàn dưới nhiều góc độ khác nhau. Các tác giả cũng đã khá tập trung và thống nhất trong nhận thức về một số khái niệm, một số tiêu chí xác lập; một số nguyên nhân chính dẫn tới đói nghèo và một số đề xuất chung khá thuyết phục. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An thì chưa có tác giả nào nghiên cứu, đề cập.
Từ thực tiễn, trong quá trình thực hiện luận văn, Tác giả học tập, tiếp thu, kế thừa ly luận XĐGN, kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách XDGN ở một số địa phương, trên những mặt thành công, chưa thành công, rút ra bai học kinh nghiêm, dé làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu hoàn thành luận văn. Cơ sở lí luận về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo Nghèo là khái niệm đã được xuất hiện từ khá sớm trên thế giới, dé chỉ mức sông thâp hơn của một người, nhóm dân cư, một cộng đông, một quôc gia so với mức sống của một cộng đồng hay các quốc gia khác. Không có một chuẩn mực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia.
Chuẩn mực nghèo đói cũng thay đổi theo thời gian. Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu A - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nghéo là tình trạng một bộ phận dân cu không được hưởng và thỏa mãn các nhu cẩu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [28, tr.186] Hội nghị thượng đỉnh thé giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995, đã đưa ra một định nghĩa cụ thé hơn về nghèo đói như sau: "Người nghèo là tat cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu dé tôn tại"(Nguồn: Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội ở Copenhagen - Đạn Mạch, năm 1995). Từ những vấn đề trên, nghèo co thé được nhận diện trên hai khía cạnh sau: - Nghèo đói tuyệt đối, được lý giải là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà những nhu cầu đó đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Một cách diễn đạt khác: một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghẻo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định).
- Nghèo đói tương đối, là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thê và thời gian nhất định [28, tr.