Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về thu ngân sách tại huyện Quế Sơn, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý thu ngân sách tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá tổng quan quản lý nhà nước về thu ngân sách

Quản lý nhà nước về thu ngân sách là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng hệ thống chính sách và công cụ pháp luật để huy động các nguồn lực tài chính vào ngân sách nhà nước (NSNN). Mục tiêu chính là đảm bảo nguồn thu ổn định, công bằng, và hiệu quả, phục vụ cho các nhiệm vụ chi tiêu công, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo an ninh quốc phòng. Tại cấp huyện, quản lý nhà nước về thu ngân sách có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ là công cụ tập trung nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương mà còn góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Luận văn của tác giả Thái Văn Tuấn nhấn mạnh, công tác này tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu, thể hiện qua việc thu ngân sách luôn đạt và vượt kế hoạch. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được khắc phục. Hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội và năng lực của bộ máy quản lý. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN tại địa phương là một yêu cầu cấp thiết, giúp khai thác tối đa tiềm năng, chống thất thu thuế và đảm bảo nguồn lực cho sự phát triển của huyện.

1.1. Vai trò của công tác thu ngân sách nhà nước cấp huyện

Công tác thu ngân sách nhà nước cấp huyện có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống tài chính quốc gia. Thứ nhất, nó là công cụ huy động nguồn lực tài chính chủ yếu để đảm bảo các nhiệmvụ chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư phát triển tại địa phương, từ việc duy trì hoạt động của bộ máy chính quyền đến xây dựng cơ sở hạ tầng. Thứ hai, thông qua các chính sách thuế, phí, lệ phí, quản lý nhà nước về thu ngân sách góp phần điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh, định hướng đầu tư và tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Thứ ba, nó đảm bảo thực hiện công bằng xã hội thông qua việc điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách trung ương và tăng tính tự chủ cho địa phương. Tại huyện Quế Sơn, nguồn thu ngân sách đã đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH, cải thiện đời sống người dân.

1.2. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu ngân sách Quế Sơn

Hiệu quả quản lý thu ngân sách tại huyện Quế Sơn chịu tác động của nhiều nhân tố. Về điều kiện tự nhiên, với hơn 60% diện tích là đồi núi, huyện thường xuyên đối mặt với thiên tai, lũ lụt, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và kinh doanh của người dân. Về kinh tế, sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ là cơ sở để mở rộng nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, sự biến động của thị trường và các dịch bệnh như Covid-19 đã gây ra những tác động tiêu cực. Về xã hội, sự ổn định chính trị, trình độ dân trí và ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân và doanh nghiệp là yếu tố then chốt. Cuối cùng, năng lực của các cơ quan quản lý, đặc biệt là Chi cục Thuế và Phòng Tài chính - Kế hoạch, trong việc lập dự toán, tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quyết định đến kết quả thu ngân sách hàng năm.

II. Thách thức trong quản lý thu ngân sách tại huyện Quế Sơn

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Quế Sơn vẫn đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế. Luận văn chỉ rõ, một trong những vấn đề nổi cộm là công tác lập dự toán thu ngân sách đôi khi chưa sát với thực tế, thiếu cơ sở vững chắc, dẫn đến việc phải điều chỉnh nhiều lần trong năm. Tình trạng nợ thuế, thất thu, gian lận và trốn thuế vẫn còn diễn ra, đặc biệt ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và các hộ kinh doanh cá thể. Nguồn thu ngân sách của huyện còn phụ thuộc nhiều vào các khoản thu không bền vững như tiền sử dụng đất, trong khi các nguồn thu từ sản xuất kinh doanh chưa thực sự ổn định. Công tác phối hợp giữa cơ quan thuế và các ban ngành, chính quyền cấp xã đôi khi chưa đồng bộ, một số đơn vị còn xem nhẹ nhiệm vụ thu ngân sách, coi đây là trách nhiệm của riêng ngành thuế. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý thu NSNN mà còn ảnh hưởng đến tính bền vững của nguồn thu và khả năng tự cân đối ngân sách của địa phương. Việc xác định rõ nguyên nhân của các tồn tại là bước đi cần thiết để đề ra các giải pháp khắc phục hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong công tác lập dự toán và quyết toán ngân sách

Theo nghiên cứu, công tác lập dự toán thu ngân sách tại Quế Sơn còn mang tính kinh nghiệm, chưa dựa trên cơ sở phân tích, dự báo khoa học về tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương. Điều này dẫn đến dự toán được giao đôi khi quá cao hoặc quá thấp so với khả năng thực tế, gây khó khăn cho quá trình điều hành. Bên cạnh đó, công tác quyết toán ngân sách còn chậm trễ và mang tính hình thức. Việc tổng hợp, đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và cơ quan thu chưa thực sự chặt chẽ, kịp thời. Những yếu kém trong khâu lập dự toán và quyết toán làm giảm tính minh bạch và hiệu quả của toàn bộ chu trình quản lý ngân sách tại huyện.

2.2. Tình trạng thất thu thuế và nợ đọng ngân sách còn phổ biến

Một trong những thách thức lớn nhất là tình trạng thất thu thuế và nợ đọng. Luận văn chỉ ra rằng việc quản lý các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho các hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế dù đã được chú trọng nhưng số lượng và chất lượng các cuộc thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa bao quát hết các đối tượng rủi ro cao. Tình trạng nợ đọng thuế kéo dài không chỉ gây thất thu cho ngân sách mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh.

2.3. Nguyên nhân khách quan và chủ quan của các tồn tại

Các hạn chế trong quản lý nhà nước về thu ngân sách xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, sự ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế vĩ mô đã tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng nộp ngân sách của doanh nghiệp và người dân. Hệ thống chính sách, pháp luật về thuế còn phức tạp, thường xuyên thay đổi cũng gây khó khăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý. Về chủ quan, năng lực một bộ phận cán bộ thuế còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế chưa thực sự hiệu quả. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ, và ý thức chấp hành của một bộ phận người nộp thuế chưa cao.

III. Phương pháp hoàn thiện công tác lập dự toán thu ngân sách

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thu ngân sách, việc hoàn thiện công tác lập dự toán là nhiệm vụ hàng đầu. Một dự toán thu ngân sách khoa học, chính xác và khả thi sẽ là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động điều hành ngân sách trong năm. Tại huyện Quế Sơn, cần đổi mới phương pháp lập dự toán theo hướng dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu. Thay vì chỉ dựa vào số thực hiện của năm trước, cần kết hợp phân tích tiềm năng tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực kinh tế, dự báo tác động của các chính sách mới và biến động thị trường. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, xử lý dữ liệu và xây dựng các mô hình dự báo sẽ giúp tăng tính chính xác cho dự toán. Đồng thời, cần tăng cường vai trò và trách nhiệm của các phòng, ban chuyên môn và UBND các xã, thị trấn trong việc cung cấp thông tin, đánh giá nguồn thu trên địa bàn. Một quy trình lập dự toán NSNN minh bạch, có sự tham gia của nhiều bên liên quan sẽ đảm bảo dự toán được xây dựng sát với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức thực hiện và giám sát sau này.

3.1. Căn cứ và yêu cầu trong việc lập dự toán NSNN huyện

Việc lập dự toán thu ngân sách phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Các căn cứ chính bao gồm: nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện trong năm kế hoạch, các chỉ thị của cấp trên, phân cấp nguồn thu giữa các cấp ngân sách, và số liệu phân tích tình hình thực hiện thu các năm trước. Yêu cầu đặt ra là dự toán phải được tính toán đầy đủ, có cơ sở khoa học cho từng khoản thu, sắc thuế. Dự toán phải đảm bảo tính tích cực, phấn đấu tăng thu nhưng không xa rời thực tế, tránh việc giao chỉ tiêu quá cao gây áp lực hoặc quá thấp làm bỏ sót nguồn thu tiềm năng.

3.2. Nâng cao chất lượng phân tích và dự báo các nguồn thu

Chất lượng của công tác lập dự toán phụ thuộc lớn vào khả năng phân tích và dự báo. Cơ quan tài chính và cơ quan thuế huyện Quế Sơn cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu toàn diện về người nộp thuế, về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trên địa bàn. Cần thường xuyên phân tích cơ cấu nguồn thu, xác định các nguồn thu bền vững, các nguồn thu tiềm năng và các yếu tố rủi ro có thể ảnh hưởng đến số thu. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tham vấn ý kiến chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp cũng là một kênh thông tin quan trọng để có những dự báo chính xác hơn, giúp công tác quản lý thu ngân sách chủ động và hiệu quả hơn.

IV. Bí quyết tổ chức thực hiện và tuyên truyền thu ngân sách

Sau khi có một dự toán chất lượng, khâu tổ chức thực hiện và tuyên truyền đóng vai trò quyết định đến kết quả cuối cùng của công tác quản lý nhà nước về thu ngân sách. Tại huyện Quế Sơn, để đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trọng tâm là phải hiện đại hóa công tác quản lý thuế, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người nộp thuế. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện khai thuế, nộp thuế điện tử sẽ giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và tăng tính minh bạch. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật thuế cần được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Thay vì chỉ tuyên truyền một chiều, cần tăng cường đối thoại, tư vấn, giải đáp vướng mắc trực tiếp cho doanh nghiệp và người dân. Một khi người nộp thuế hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, họ sẽ tự giác chấp hành tốt hơn, góp phần giảm thiểu tình trạng thất thu thuế và xây dựng mối quan hệ hợp tác tích cực giữa cơ quan thuế và cộng đồng.

4.1. Tăng cường tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật thuế

Công tác tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc phổ biến các văn bản pháp luật mới. Cần xây dựng các chương trình tuyên truyền chuyên sâu theo từng nhóm đối tượng (doanh nghiệp mới thành lập, hộ kinh doanh, doanh nghiệp xây dựng...). Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào những thay đổi chính sách, những lỗi sai thường gặp và các lợi ích của việc tuân thủ pháp luật thuế. Cần đa dạng hóa các kênh tuyên truyền như sử dụng mạng xã hội, tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị đối thoại, gửi email, tin nhắn trực tiếp... để chính sách thuế thực sự đi vào cuộc sống, nâng cao ý thức tự giác của người nộp thuế.

4.2. Hiện đại hóa quy trình thu và nộp ngân sách nhà nước

Hiện đại hóa là xu thế tất yếu trong quản lý thu ngân sách. Huyện Quế Sơn cần tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai hóa đơn điện tử, nộp thuế điện tử và hoàn thuế điện tử. Việc liên thông dữ liệu giữa cơ quan thuế, kho bạc, ngân hàng và các cơ quan quản lý nhà nước khác (như tài nguyên môi trường, đăng ký kinh doanh) sẽ giúp quản lý nguồn thu một cách hiệu quả, chống thất thu, đặc biệt trong các lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản. Hiện đại hóa quy trình không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của huyện.

V. Hướng dẫn tăng cường thanh tra kiểm tra thu ngân sách

Thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước về thu ngân sách, có tác dụng răn đe, phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế. Để nâng cao hiệu quả công tác này tại huyện Quế Sơn, cần chuyển đổi từ phương pháp thanh tra truyền thống sang thanh tra dựa trên quản lý rủi ro. Điều này có nghĩa là tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp, ngành nghề có rủi ro cao về thuế, thay vì kiểm tra dàn trải. Việc ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích dữ liệu, nhận diện các dấu hiệu bất thường trong hồ sơ khai thuế sẽ giúp xác định đối tượng thanh tra chính xác hơn. Luận văn của Thái Văn Tuấn cũng đề xuất cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chi tiết hàng năm, kết hợp giữa kiểm tra định kỳ và đột xuất. Quá trình thanh tra phải đảm bảo tính khách quan, minh bạch, đúng quy trình pháp luật. Kết quả xử lý các vi phạm cần được công khai để tăng tính răn đe, qua đó góp phần tích cực vào việc chống thất thu thuế và đảm bảo sự công bằng trong thực thi nghĩa vụ với NSNN.

5.1. Xây dựng kế hoạch thanh tra kiểm tra định kỳ và đột xuất

Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm cần được xây dựng một cách khoa học, dựa trên kết quả phân tích rủi ro. Kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng và thời gian thực hiện. Bên cạnh các cuộc thanh tra theo kế hoạch, cần thực hiện các cuộc kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng hoặc có thông tin tố giác từ quần chúng. Sự kết hợp linh hoạt giữa thanh tra định kỳ và đột xuất sẽ giúp nâng cao hiệu quả phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm, đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.

5.2. Biện pháp xử lý vi phạm nhằm chống thất thu ngân sách

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về thuế sau khi được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng quy định. Các biện pháp xử lý bao gồm truy thu số thuế thiếu, phạt chậm nộp, phạt vi phạm hành chính, và có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp nghiêm trọng. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế như phong tỏa tài khoản, thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng... cần được thực hiện quyết liệt đối với các trường hợp chây ì, nợ đọng kéo dài. Xử lý nghiêm vi phạm không chỉ giúp thu hồi các khoản tiền cho ngân sách nhà nước mà còn có tác dụng giáo dục, răn đe chung, tạo lập một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch.

VI. Định hướng phát triển quản lý thu ngân sách đến năm 2025

Dựa trên phân tích thực trạng và các giải pháp đề xuất, luận văn đã phác thảo định hướng phát triển công tác quản lý nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Quế Sơn đến năm 2025. Mục tiêu tổng quát là xây dựng một nền tài chính địa phương vững mạnh, bền vững, với cơ cấu thu hợp lý, tăng tỷ trọng các khoản thu từ sản xuất kinh doanh. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự nỗ lực đồng bộ từ các cấp chính quyền, cơ quan chuyên môn và cộng đồng doanh nghiệp, người dân. Trọng tâm của định hướng là tiếp tục cải cách hành chính thuế, hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Đồng thời, huyện cần tập trung cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, bởi đây chính là giải pháp căn cơ và bền vững nhất để nuôi dưỡng và mở rộng nguồn thu ngân sách. Việc thực hiện thành công các định hướng này sẽ giúp huyện Quế Sơn không chỉ đảm bảo tự chủ về ngân sách mà còn tạo ra nguồn lực dồi dào để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

6.1. Tổng kết kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về thu ngân sách cấp huyện, phân tích sâu sắc thực trạng tại Quế Sơn giai đoạn 2018-2020, chỉ ra cả thành công và hạn chế. Bài học kinh nghiệm rút ra là quản lý thu ngân sách phải gắn liền với phát triển kinh tế; phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan; và phải luôn đặt người nộp thuế vào vị trí trung tâm để phục vụ. Công tác lập dự toán, tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểm tra là ba trụ cột không thể tách rời, cần được hoàn thiện một cách liên tục.

6.2. Kiến nghị với UBND huyện Quế Sơn và cơ quan cấp trên

Luận văn đề xuất một số kiến nghị cụ thể. Đối với UBND huyện Quế Sơn, cần tăng cường chỉ đạo, nâng cao vai trò của Ban chỉ đạo chống thất thu ngân sách, đầu tư nguồn lực cho công tác quản lý thuế. Đối với các cơ quan cấp trên như Cục Thuế tỉnh Quảng Nam, cần quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thuế cấp huyện, đồng thời có cơ chế phân cấp nguồn thu hợp lý hơn để tạo động lực cho địa phương. Những kiến nghị này nếu được thực hiện sẽ tạo ra một cú hích quan trọng, giúp hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách tại Quế Sơn trong thời gian tới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE THU NGAN SACH 1. KHÁI QUÁT QUAN LY NHA NUGOC VE THU NGÂN SÁCH 1. Một số khái niệm a. Ngân sách Ngân sách là một phạm trù khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở ra đời tồn tại và phát triển của nhà nước gắn liền với sự hình thành phát triển của nhà nước và hàng hóa tiền tệ, là một phần trong hệ thống tài chính nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng chính tự duy trì và phát triển kinh tế xã hội, quy định các khoản thu chỉ của nhà nước nhằm mục đích đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước.

[25] Ngân sách nói chung là một danh sách tất cả các chi phí và doanh thu theo kế hoạch. Ngân sách là một khái niệm quan trọng trong kinh tế vi mô, trong đó sử dụng ngân sách để minh họa cho sự đánh đổi giữa một hoặc nhiều loại hàng hoá. Trong điều kiện khác, ngân sách là một kế hoạch tô chức được. nêu trong các điều khoản tiền tệ.

Mục đích của ngân sách là Cung cấp những dự đoán về các khoản thu và chỉ,có nghĩa là xây dựng. một mô hình kinh doanh của chúng ta như thế nào để có thể thực hiện vẻ tài chính,có nghĩa là nếu có chiến lược nhất định thì các sự kiện và kế hoạch được thực hiện. Kích hoạt các hoạt động tài chính thực tế của doanh nghiệp được đo với dự báo. Thu ngân sách Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị đế thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.

Như vậy, thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỳ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chỉ tiêu xác định của nhà nước. ~ Nhóm I: Thu từ thuế, phí, lệ phí có tính chất thuế. ~ Nhóm II: Thu không mang tính chất thuế, bao gồm một số nhóm tiêu. biểu như sau: + Lợi tức của Nhà nước thu được từ hoạt động góp vồn tại các tổ chức kinh tế.

+ Tiền bán và cho thuê tài sản của Nhà nước; tiền thu hồi vốn của nhà nước từ các cơ sở kinh tế. + Viện trợ không hoàn lại và vay của các tổ chức Chính phủ, phi chính phủ ở nước ngoài. + Thu khác (thu từ hoạt động sự nghiệp có thu, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân để xây dựng các công trình kết cấu cơ sở hạ tầng, các khoản di sản nhà nước được hưởng. ~ Dựa vào tính pháp lý: + Các khoản thu mang tính bắt buộc: bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí.

+ Các khoản thu mang tính chất tự nguyện: bao gồm các khoản thu tự viện trợ, vay nợ, tặng, cho. Thu ngân sách là họat động nhằm tạo lập quỹ ngân sách theo những trình tự và thủ tục pháp luật quy định trên cơ sở các khoản thu đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định đẻ thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Thu ngân sách bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí 12 các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức cá nhân; các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Việc thu ngân sách nhằm huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xã hội, vì vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế của đất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế.

Hoạt động thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế pháp lý điển hình là bắt buộc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được xem là chủ yếu. “Thu ngân sách có những đặc điểm cơ bản sau Thứ nhất, nguồn tài chính tập trung vào ngân sách là những khoản thu. nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Thu ngân sách phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thẻ trong xã hội.

Thu ngân sách là họat động gắn liền với lệc thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Trong họat động. thu ngân sách, nhà nước luôn tham gia với tư cách là chủ thẻ bắt buộc và chủ thể được phép sử dụng quyên lực chính trị. Thứ hai, đối tượng của thu ngân sách là của cải xã hội biểu hiệu dươi hình thức giá trị.

Thứ ba, các khoản thu ngân sách chủ yếu bắt nguồn từ nền kinh tế quốc dân và gắn liền với kết quả của các họat động sản xuất kinh doanh; nó gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập. Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều của các công cụ thu ngân sách. Quản lý nhà nước về thu ngân sách Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước. Thu NS bao gồm thuế, các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Quản lý nhà nước vẻ thu ngân sách là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, là hoạt động của các chủ thẻ quản lý ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của ngân sách nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Đặc điểm của quản lý nhà nước về thu ngân sách cấp huyện a. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về thu ngân sách Đổ thực hiện chức năng của mình, Nhà nước cần có một khoản thu nhất định để trang trải các khoản chỉ phí đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bộ may, các hoạt động quản lý xã hội và đảm nhận các khoản chỉ phí phục vụ cho mục đích công cộng khác. Do đó, Nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình, tạo tiền đề về vật chất cho.

việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất, thu ngân sách là việc Nhà nước dùng quyền lực đề tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Đồng thời thu ngân sách cũng là một kênh phân phói thu nhập quốc dân trong hệ thống tài chính quốc gia. Về phương diện pháp lý, thu ngân sách bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chỉ tiêu của Nhà 14 nước.

Về bản chất, quản lý nhà nước vẻ thu ngân sách là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Như vậy quản lý nhà nước về thu ngân sách là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực công để tập trung một bộ phận của cải xã hội hình thành nên quản lý ngân sách phục vụ chỉ tiêu dùng của Nhà nước. Nhà nước tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình bằng cách phân chia các nguồn lực của xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước. Thu NSNN cap huyện là quá trình Nhà nước tập trung một phần nguồn lực trong nền KT - XH tại địa phương vào tay Nhà nước.

Trong thực hiện thu ngân sách, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ và các biện pháp khác dựa trên quyền lực của mình trong điều hành quá trình thu nhằm quản lý hình thức thu, số thu ngân sách, và các nhân tó tác động đến thu ngân sách nhằm đảm bảo. đảm bảo các mục đích, yêu cầu của thu ngân sách đã đề ra trong từng giai đoạn cụ thể. Như vậy: Quản lý thu NSNN cấp huyện là quá trình Nhà nước sử dụng. tổng hợp các công cụ, biện pháp dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước để tập trung các nguồn lực trong nền KT - XH tại địa phương cho Nhà nước theo quy định của pháp luật và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra.

Thu NSNN cấp huyện bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, thu từ thuế là nguồn thu chiếm chủ yếu, có tính bền vững cao cũng là một trong các công cụ hữu hiệu của Nhà nước dùng để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh và 15 tiêu dùng trong nền kinh tế. Vì thế công tác quản lý thu NSNN, quản lý về thuế quan trọng và chủ yếu nhất. Đề có thể phát huy tốt vai trò điều tiết vĩ mô của công cụ thuế thì hệ thống thuế phải được thường xuyên sửa đổi cho phù hợp với trình độ phát triển của KT - XH.

Hệ thống thuế tốt không chỉ đảm bảo vận hành tốt trong hiện tại mà còn phải đi trước và có sự tiên lượng đẻ quản lý các yêu cầu phát sinh trong tương lai khi đó quản lý về thu mới có thê đạt được hiệu quả cao và hạn chế được thất thu cho ngân sách. Quản lý các nội dung thu ngoài thuế cũng có những ý nghĩa quan trọng nhất định. Quản lý về thu phạt có vai trò trong ôn định môi trường kinh tế - chính trị - xã hội trên tất cả mọi mặt của đời sống. Quản lý các nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản nhằm sử dụng tốt các điều kiện về tự nhiên mà thiên nhiên ban tặng phục vụ có hiệu quả trong phát triển kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ