CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE THU NGAN SACH 1. KHÁI QUÁT QUAN LY NHA NUGOC VE THU NGÂN SÁCH 1. Một số khái niệm a. Ngân sách Ngân sách là một phạm trù khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở ra đời tồn tại và phát triển của nhà nước gắn liền với sự hình thành phát triển của nhà nước và hàng hóa tiền tệ, là một phần trong hệ thống tài chính nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng chính tự duy trì và phát triển kinh tế xã hội, quy định các khoản thu chỉ của nhà nước nhằm mục đích đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước.
[25] Ngân sách nói chung là một danh sách tất cả các chi phí và doanh thu theo kế hoạch. Ngân sách là một khái niệm quan trọng trong kinh tế vi mô, trong đó sử dụng ngân sách để minh họa cho sự đánh đổi giữa một hoặc nhiều loại hàng hoá. Trong điều kiện khác, ngân sách là một kế hoạch tô chức được. nêu trong các điều khoản tiền tệ.
Mục đích của ngân sách là Cung cấp những dự đoán về các khoản thu và chỉ,có nghĩa là xây dựng. một mô hình kinh doanh của chúng ta như thế nào để có thể thực hiện vẻ tài chính,có nghĩa là nếu có chiến lược nhất định thì các sự kiện và kế hoạch được thực hiện. Kích hoạt các hoạt động tài chính thực tế của doanh nghiệp được đo với dự báo. Thu ngân sách Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị đế thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.
Như vậy, thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỳ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chỉ tiêu xác định của nhà nước. ~ Nhóm I: Thu từ thuế, phí, lệ phí có tính chất thuế. ~ Nhóm II: Thu không mang tính chất thuế, bao gồm một số nhóm tiêu. biểu như sau: + Lợi tức của Nhà nước thu được từ hoạt động góp vồn tại các tổ chức kinh tế.
+ Tiền bán và cho thuê tài sản của Nhà nước; tiền thu hồi vốn của nhà nước từ các cơ sở kinh tế. + Viện trợ không hoàn lại và vay của các tổ chức Chính phủ, phi chính phủ ở nước ngoài. + Thu khác (thu từ hoạt động sự nghiệp có thu, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân để xây dựng các công trình kết cấu cơ sở hạ tầng, các khoản di sản nhà nước được hưởng. ~ Dựa vào tính pháp lý: + Các khoản thu mang tính bắt buộc: bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí.
+ Các khoản thu mang tính chất tự nguyện: bao gồm các khoản thu tự viện trợ, vay nợ, tặng, cho. Thu ngân sách là họat động nhằm tạo lập quỹ ngân sách theo những trình tự và thủ tục pháp luật quy định trên cơ sở các khoản thu đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định đẻ thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Thu ngân sách bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí 12 các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức cá nhân; các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Việc thu ngân sách nhằm huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xã hội, vì vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế của đất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế.
Hoạt động thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế pháp lý điển hình là bắt buộc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được xem là chủ yếu. “Thu ngân sách có những đặc điểm cơ bản sau Thứ nhất, nguồn tài chính tập trung vào ngân sách là những khoản thu. nhập của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Thu ngân sách phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thẻ trong xã hội.
Thu ngân sách là họat động gắn liền với lệc thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Trong họat động. thu ngân sách, nhà nước luôn tham gia với tư cách là chủ thẻ bắt buộc và chủ thể được phép sử dụng quyên lực chính trị. Thứ hai, đối tượng của thu ngân sách là của cải xã hội biểu hiệu dươi hình thức giá trị.
Thứ ba, các khoản thu ngân sách chủ yếu bắt nguồn từ nền kinh tế quốc dân và gắn liền với kết quả của các họat động sản xuất kinh doanh; nó gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập. Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều của các công cụ thu ngân sách. Quản lý nhà nước về thu ngân sách Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước. Thu NS bao gồm thuế, các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước vẻ thu ngân sách là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, là hoạt động của các chủ thẻ quản lý ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của ngân sách nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Đặc điểm của quản lý nhà nước về thu ngân sách cấp huyện a. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về thu ngân sách Đổ thực hiện chức năng của mình, Nhà nước cần có một khoản thu nhất định để trang trải các khoản chỉ phí đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bộ may, các hoạt động quản lý xã hội và đảm nhận các khoản chỉ phí phục vụ cho mục đích công cộng khác. Do đó, Nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình, tạo tiền đề về vật chất cho.
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất, thu ngân sách là việc Nhà nước dùng quyền lực đề tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Đồng thời thu ngân sách cũng là một kênh phân phói thu nhập quốc dân trong hệ thống tài chính quốc gia. Về phương diện pháp lý, thu ngân sách bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chỉ tiêu của Nhà 14 nước.
Về bản chất, quản lý nhà nước vẻ thu ngân sách là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Như vậy quản lý nhà nước về thu ngân sách là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực công để tập trung một bộ phận của cải xã hội hình thành nên quản lý ngân sách phục vụ chỉ tiêu dùng của Nhà nước. Nhà nước tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình bằng cách phân chia các nguồn lực của xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước. Thu NSNN cap huyện là quá trình Nhà nước tập trung một phần nguồn lực trong nền KT - XH tại địa phương vào tay Nhà nước.
Trong thực hiện thu ngân sách, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ và các biện pháp khác dựa trên quyền lực của mình trong điều hành quá trình thu nhằm quản lý hình thức thu, số thu ngân sách, và các nhân tó tác động đến thu ngân sách nhằm đảm bảo. đảm bảo các mục đích, yêu cầu của thu ngân sách đã đề ra trong từng giai đoạn cụ thể. Như vậy: Quản lý thu NSNN cấp huyện là quá trình Nhà nước sử dụng. tổng hợp các công cụ, biện pháp dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước để tập trung các nguồn lực trong nền KT - XH tại địa phương cho Nhà nước theo quy định của pháp luật và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra.
Thu NSNN cấp huyện bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, thu từ thuế là nguồn thu chiếm chủ yếu, có tính bền vững cao cũng là một trong các công cụ hữu hiệu của Nhà nước dùng để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh và 15 tiêu dùng trong nền kinh tế. Vì thế công tác quản lý thu NSNN, quản lý về thuế quan trọng và chủ yếu nhất. Đề có thể phát huy tốt vai trò điều tiết vĩ mô của công cụ thuế thì hệ thống thuế phải được thường xuyên sửa đổi cho phù hợp với trình độ phát triển của KT - XH.
Hệ thống thuế tốt không chỉ đảm bảo vận hành tốt trong hiện tại mà còn phải đi trước và có sự tiên lượng đẻ quản lý các yêu cầu phát sinh trong tương lai khi đó quản lý về thu mới có thê đạt được hiệu quả cao và hạn chế được thất thu cho ngân sách. Quản lý các nội dung thu ngoài thuế cũng có những ý nghĩa quan trọng nhất định. Quản lý về thu phạt có vai trò trong ôn định môi trường kinh tế - chính trị - xã hội trên tất cả mọi mặt của đời sống. Quản lý các nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản nhằm sử dụng tốt các điều kiện về tự nhiên mà thiên nhiên ban tặng phục vụ có hiệu quả trong phát triển kinh tế.