Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm - Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện la H”Drai, tỉnh Kon Tum. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện la H°Drai, tỉnh Kon Tum. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYET VIEC LAM 1.
Một số khái niệm a. Lao động nông thôn Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biết lôi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình[ 12] Nguồn lao động nông thôn (LĐNT) là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuôi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn * Khái niệm việc làm Việc làm là những hoạt động có ích, không vi phạm pháp luật, có thu nhập hoặc tạo điều kiện làm tăng nguồn thu cho người khác và cho xã hội. Việc làm cho lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập. mà không bị pháp luật ngăn cắm. Gồm có việc làm thuần nông và việc làm phi nông nghiệp.
Tại Điều 9, chương II, Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 năm 2019 của Việt Nam chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cắm”. Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, là một trong những van dé chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Như vậy, việc làm là lao động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích của bản thân và gia đình không bị pháp luật ngăn cấm.
Trong thực tế, phần lớn những việc làm phạm pháp (buôn lậu, buôn người, sản xuất hàng giả, hàng cấm.) đều mang lại những khoản thu nhập rất cao cho chủ thể hoạt động, nhưng đó là những hoạt động phạm pháp, không được pháp luật cho phép nên không được thừa nhận là việc làm. Từ những phân tích ở trên, có thể cho rằng, việc làm là hoạt động lao động của con người mà pháp luật không cắm, là dạng hoạt động kinh tế - xã hội, đó là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích của con người. * Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm được hiểu là tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết để người lao động tự do làm ăn, tạo ra thu nhập, tự tạo việc làm cho. bản thân mình và cho người khác theo pháp luật, phát huy đến mức cao nhất nhân tố con người với khả năng sáng tạo vô hạn của con người.
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là tạo ra các chỗ làm việc phù hợp với trình độ, khả năng của người lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu của người lao động nông thôn, người sử dụng lao động nông thôn và yêu cầu phát triển của đất nước. Giải quyết việc làm (GQVL) là việc tạo ra các cơ hội để người lao 10 đông có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội Giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy GQVL phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình. Trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước.
Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở các khía cạnh như sau: Một là, Giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra những cơ hội sử dụng tối đa sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất trong phát triển kinh tế - xã hội mang lại thu nhập hợp pháp cho người lao động, người sử dụng lao động và cho xã hội. Ở nước ta hiện nay với chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã và đang tạo mọi điều kiện thuận lợi để hình thành thị trường sức lao động đa dạng và phong, phú, cả thị trường trong và ngoài nước. Người lao động được làm chủ sức lao. động của mình, tự do tìm kiếm việc làm theo năng lực của mình ở mọi lúc, mọi nơi.
Người sử dụng lao động ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng được tự do thuê mướn lao động theo số lượng, chất lượng, theo nhu cầu. sản xuất kinh doanh mà pháp luật cho phép. Đó thực chất là quá trình đây mạnh phân công lao động, tạo ra các ngành, nghề mới để nhằm thu hút lực lượng lao động xã hội hiện đang chưa có việc làm hoặc có việc làm chưa ôn định, thu nhập thấp. Hai là, GQVL là quá trình tạo ra nhu cầu iệc làm để thu hút người lao động có nhu cầu, mong muốn được làm việc có thể tìm đến.
Đó thực chất là quá trình tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội, các chính sách của Nhà nước, các giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, các giải pháp để 11 duy trì việc làm ôn định và đạt hiệu quả cao; các giải pháp về mở rộng thị trường xuất khâu lao động; về tiền lương, trợ cấp nghề nghỉ trí. GQVL còn cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước. Ba là, GQVL là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, đòi hỏi phải có sự chung sức của cả hệ thống chính trị. Trong bắt cứ xã hội nào nhu cầu được có việc làm và khả năng GQVL của xã hội và bản thân nền kinh tế luôn có sự lệch pha và thông thường số lượng người muốn có việc làm hay còn gọi là cầu về việc làm luôn lớn hơn khả năng GQVL hay cung về việc làm.
Việc giải quyết bắt cập này phải bằng tổng thê các biện pháp cả kinh tế, chính trị, giáo dục; của cả gia đình nhà trường, xã hội; của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương nhằm tác động đến quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động, về sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế, thê chất và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với mỗi quốc gia. Trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quy định rõ ràng và đầy đủ về trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của từng thành viên trong xã hội đối với vấn đề việc làm: “giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm, là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [22, tr. Tham gia vào quá trình GQVL có nhiều thành phần: Nhà nước, các doanh nghiệp, các đoàn thể và cá nhân từng người lao động trong toàn xã hội.
Tom lại, Giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để đảm bảo cho người có khả năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó. Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ~ Khái niệm quản lý nhà nước Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010), Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tôn tại cùng với sự xuất hiện và tôn tại của nhà nước. Đó là những hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quan lÿ nhà nước tiến chức trong xã hội, trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đông, duy trì ồn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước” -Khái niệm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước tác động vào hoạt động giải quyết việc làm trên cơ sở pháp luật, để đạt tới mục tiêu của mình bằng các công cụ quản lý. ~ Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là sự tác động điều chỉnh của cơ quan quản lý nhà nướcthông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, chính sách và các biện pháp nhằm đảm bảo có việc làm cho.
lao động nông thôn. ~ Chủ thể quản lý: là hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước, trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương, đến địa phương, - Đối tượng quản lý: là người lao động và người sử dụng lao động. - Mục tiêu quản lý: Giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vat chat, tỉnh thần cho lao động nông thôn.