phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục. Nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 03 chương với tên gọi như sau 12 ‘Chuong 1: Co so ly luan vé quan ly nha nude trong thu hit dau tư ‘Chuong2: Thye trang thu hút đầu tư tại tỉnh Kon Tum Chương 3: Các giải pháp ting cường công tác quản lý nhà nước về thu hút đầu tự trong tương lai 13 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG THU HUT DAU TU 1. KHAI NIEM, VAI TRO, TAM QUAN TRỌNG CUA QUAN LY. NHÀ NƯỚC TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ: 1.
Khái niệm về thu hút đầu tư ‘Thu hút đầu tư nói chung được hiểu là quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm mời gọi đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà tư trong và ngoài nước trong quá trình đầu tư để đạt những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Môi trường đầu tư được đề cập đến ở đây là tổng thể các nhân tố có tác. động qua lại lẫn nhau và chỉ phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư, điều. chinh nhà đầu tư trong việc lựa chọn mục đích, hình thức, lĩnh vực, qui mô và phạm vi hoạt động của dựa án đầu tư, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hăm quá trình thực hiện đầu tư. 'Như vậy thu hút đầu tư của địa phương là quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư kết hợp với những hoạt động thực thi các cơ chế chính sách, giải pháp của chính quyền (tổ chức) địa phương nhằm quảng bá, tác động và khuyến khích các NĐT trong và ngoài bỏ vốn để thực hiện các dự.
án đầu tư theo mục đích pháp triển của chính quyền (tổ chức) nhằm day nhanh tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Có hai hình thức đầu tư gồm: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nha nước bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư, Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cỗ phần, cỗ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu. tư 14 Nhà đầu tư là tổ ie nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam. Có thể chia làm 2 nhóm chính là nhà đầu tư trong.
nước và nhà đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. Bản chất của nguồn vốn đầu tư chính là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất. kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác.
được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm. lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Trong kiên nền kinh tế mở, nguồn vốn để đầu tư ngoài tiết kiệm trong nước còn có thể huy. động vốn từ nước ngoài.
~ Nguồn vốn đầu tư trong nước: được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực được đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế. chỉ bao gồm tiền vốn biểu hiện bằng tai sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, đất đai, tài nguyên. mà nó còn bao gồm giá trị của những tài sản vô. hình như vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh sang chế.
Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước đó là vốn tích lũy từ ngân sách, vốn tích lũy của các doanh nghiệp và vốn tiết kiệm dân cư. Nguồn vốn từ ngân sách: là nguồn vốn do Nhà nước sở hữu và điều hành. Đây không phải là nguồn vốn sử dụng vào các mục tiêu cá nhân nên nó mang tính xã hội rất lớn, Nguồn vốn này được hình thành từ thu thuế, phí va lệ phí, các khoản viện trợ hoặc các khoản thu khác. Về nguyên tắc vốn tích.
lũy từ ngân sách được xác định bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi các khoản chỉ tiêu. Các khoản chỉ của Chính phủ qua ngân nhà nước bao gồm: Chỉ mua hàng hóa, dịch vụ, các khoản trợ cắp và chỉ lãi suất các khoản tiền vay, Các khoản thu của Chính phủ chủ yếu từ thuế, một phần là các khoản phí, lệ phí và thù khác. 15 "Vốn tích lũy các doanh nghiệp: Đồi với doanh nghiệp nhà nước vốn đầu tư được hình thành từ nguồn ngân sách đã cấp, các khoản trích khấu hao cùng. lợi nhuận tích lũy được.
Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nguồn vốn đầu tư bao gồm: Vồn tự có, vốn vay, vốn cô phần, vốn liên doanh liên kết với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Nguồn vốn tiết kiệm được từ dân cư: Đây là nguồn vốn lẻ nằm phân tán trong dân chúng nhưng chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng vốn toàn xã hội. Mức tiết kiệm của dân cư một mặt phụ thuộc vào mức thu nhập của họ. mặt khác tùy thuộc vào mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm và chính sách ổn định.
tiễn tệ của nha nude. ;ồn huy động từ nước ngoài: iu tư gián tiếp: Là vốn của các Chính phủ, các tổ chức qui tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như viện trợ hoàn lại, viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình thức thông thường. Một hình thức phổ biến của. đầu tư gián tiếp tồn tại dưới loại hình ODA - viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển.
Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu tư. gián tiếp thường gắn với sự trả giá về mặt chính trị và tình trạng nợ chồng. chất nều không sử dụng có hiệu quả và thực hiện nghiêm ngặt trong chế độ trả nợ vay.
‘Von dau tw trực tiếp (FDI): là vồn của các doanh nghiệp và các cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý cquá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra. Vốn này thường không đủ lớn để giải quyết đút điểm từng vấn đề KY-XH của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên với vốn đầu tư trực tiếp nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ, lại có thể dễ dàng có. 16 được công nghệ, học tập được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối công nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị trường thể giới.
Khái niệm về quản lý nhà nước trong thu hút đầu tư Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công nghệ, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất cao của nền kinh tế thị trường được quốc tế hoá nhanh chóng đã thúc. đây mạnh mẽ xu hướng nâng cao vai trò quản lý với tư cách là một chức năng xã hội đặc biệt, Từ khi xuất hiện Nhà nước thì bộ phận quan hệ quản lý quan trọng nhất, tức là phần quản lý xã hội quan trọng nhất, do Nhà nước đảm. Tắt nhiên, chúng ta cần thấy rằng, quản lý xãï nói chung và quản lý kinh tế nói riêng không chỉ do Nhà nước với tư cách là tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt thực hiện mà còn do các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện như giai cấp, chính đảng, cơ quan xã hội.
và ở d- ưới góc độ khác là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp tư nhân. Quản lý Nhà nước ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là Nhà nước, mà là sự quản lý có tinh chất Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Nghiên cứu về quản lý nhà nước trong thu hút đầu tư tại địa phương, đề tải này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lý Nhà nước theo nghĩa hẹp đó là hoạt động chấp hành và điều hành do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện. Trong quá trình quản lý Nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp trong và ngoài nước, giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối liên hệ qua lai, gắn bó hữu cơ.
Quản lý Nhà nước về thu hút đầu tư là sự tác động của chủ thể quản lý cơ quan quản lý Nhà nước) vào khách thể quản lý (các hoạt động thu hat u tư trực tiếp diễn ra tai địa phương) nhằm đạt được những mục tiêu 7 đã định. Như vậy, Quản lý Nhà nước trong thu hút đầu tư trực tiếp là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước Việt Nam. được tiến hành trên cơ sở pháp luật và dé thi hành pháp luật vẻ thu hút đầu tư trong và ngoài nước đến với địa phương nhằm khuyến khích và bảo đảm cho. các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động đầu tư tại địa bàn tỉnh trên cơ sở tuân thủ pháp luật và hai bên cùng có lợi.
Mặt chấp hành của hoạt động này thể hiện ở sự thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp; Mặt điều. hành là sự chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý là nhà đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh. Một đặc trưng của hoạt động điều hành của Nhà nước là ra các văn bản dưới luật mang tính chat pháp lý, quyền lực được đảm bảo bởi khả năng áp dụng cưỡng chế. Hoạt động chấp hành thường.
bao hàm hoạt động điều hành bởi trong đa số các trường hợp, nếu thiểu các hoạt động điều hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách nghiêm. Quản lý Nhà nước về thu hút đầu tư trực tiếp còn mang tính dưới luật. "Tính dưới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu tư và các đạo luật có.