Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Khu Công nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài của Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam 6. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn Quản lý đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước, của từng địa phương nên được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, dòng lưu chuyển vốn FDI cũng không những tăng lên, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và phát triển kinh tế toàn cầu.
Với mục đích khác nhau đã có nhiều tô chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay cũng đã có nhiều công trình đề cập đến những vấn đề có liên quan đến quản lý kinh tế nói chung, đối với kinh tế có vốn FDI nói riêng. Cho đến nay, những vấn đề chung về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã được khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên, chỉ có một số nghiên cứu đi sâu nghiên cứu về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó có quản lý đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp.
Tác giả đi sâu phân tích một số công trình tiêu biểu, liên quan đến nội dung nghiên cứu và rút ra những khoảng trống nghiên cứu tiếp theo. Các công trình nghiên cứu tiêu biễu nước ngoài - Nghiên cứu của UNCTAD (2008) với “Báo cáo đánh giá chính sách đâu me Việt Nam” tại hội nghị Geneve. Đây là nghiên cứu khá sâu của “UNCTAD đóng vai trò là cơ quan đầu mối của Ban Thư Kí Liên hiệp quốc phụ trách tất cả các vấn đề liên quan đầu tư trực tiếp nước ngoài” tại Việt Nam. ƯNCTAD nghiên cứu “chính sách đầu tư của Việt Nam, được đề xướng theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam”, với mục đích “nhằm giúp đỡ các quốc gia cải thiện chính sách đầu tư của mình và giúp đỡ các chính phủ và khu vực.
tư nhân trên thể giới làm quen với môi trường đầu tư của từng quốc gia”. Báo cáo đánh giá vào tháng 3 và tháng 4 năm 2007, và dựa trên những thông tin mới nhất tại thời điểm đó. Phái đoàn cũng thu nhập quan điểm của khu vực tư nhân, cả trong nước và nước ngoài, và cộng đồng quố: tại Việt Nam, đặc biệt là các nhà tại trợ song phương và các cơ quan phát triễ [3]. Từ cách tiếp cận FDI là nguồn lực đầu tư phát triển, phân tích các xu hướng trước đây về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của nó đối với nền kinh tế của Việt Nam; một số chính sách nhằm tách biệt một cách rõ ràng giữa sở hữu nhà nước và các chức năng điều tiết của Nhà nước, cùng với việc hợp lý hóa và đơn giản hóa về lợi ích khuyến khích tài chính đối với các loại thuế doanh nghiệp.
Nghiên cứu đã xem xét hệ thống chính sách của Việt Nam khá toàn diện với 13 nhóm chính sách khác nhau. Tuy vậy, báo cáo cũng chỉ đưa ta một số khuyến nghị về giải pháp chủ quan từ tông kết thực tế, chưa luận giải trên cơ sở khoa học. Hatem Elsharawy (2006) cho rằng: “Các công ty đa quốc gia là một tổ chức hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau, mỗi quốc gia chủ nhà có một môi truờng pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và công nghệ có thể khác nhau. Các yếu tố từ nền kinh tế đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến các hoạt động chuyển giá quốc tế.
Vì vậy, cần thiết nghiên cứu các yếu tố của nền kinh tế ảnh huởng đến chuyển giá trong các công ty đa quốc gia và là nền tảng cho công tác quản lý. ~ Việt Phương (2015) “các biện pháp chồng gian lận và trồn thuế”, Tạp chí Kinh tế thế giới. Các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có qui mô và vốn lớn khi đầu tư vào các nước khác thì thường xảy ra hiện tượng trồn thuế, lận thuế. Theo tác giả bài báo này “Mổi năm các công ty, các tập đoàn đa quốc.
gia đã gây thất thoát 1.000 tỷ Euro về tiền thuế, Đã đến mức báo động và buộc các nhà lãnh đạo EU phải có giải pháp đông bộ để quản lý và nhằm đề hạn chế tình trạng gian lận thuế. Làm thể nào để có một giải pháp nào mang tính đồng bộ, toàn điện về quản lý nhà nước để hạn chế gian lận thuế tại các tập đoàn kinh tế". Đây là vần đề cần quan tâm đúng mức và có những giải pháp để nâng cao quản lý các tập đoàn, các công ty đa quốc gia khi đầu tư tại Việt Nam [19]. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước - Nguyễn Văn Tuấn (2005), nghiên cứu về “Đâu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam”.
Nghiên cứu đưa ra quan điểm nếu chỉ nhấn mạnh thu hút FDI vào tăng trưởng kinh tế như là một nguồn lực, mà chưa chú trọng giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội khác sẽ dẫn đến mặt trái của tăng trưởng. Những nghiên cứu giải pháp quản lý về chính sách nhằm tăng cường thu hút vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI, cũng chỉ dừng lại ở những chính sách nhằm tăng cường tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam. Những vấn đề về chính sách liên quan đến quản lý kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên nghiên cứu đưa ra không được tiếp cận và giải quyết toàn diện, hệ thống, đồng bộ các vấn đề liên quan đến quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài [28]. ~ Trần Quang Lâm (2006) “Kinh tế có vốn đâu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay".
Đây là sách chuyên khảo về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Nghiên cứu tiếp cận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với tư cách là một thành phần kinh tế. Tác giả đã nhận định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài như là một khu vực kinh tế, nhưng trong quá trình nghiên cứu lại khảo sát, chỉ ra xu hướng vận động, phát triển và chuyển hóa nó. Như vậy, nghiên cứu lại đi vào xem xét thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và sự vận động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
các quan điểm, giải pháp nhằm quản lý, phát triển, mở rộng và sử dụng có hiệu quả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chỉ là những giải pháp mang tính kỹ thuật, tuy có liên quan tới chính sách. Hơn nữa những giải pháp liên quan đến chính sách chưa được phân tích trên cơ sở khoa học từ nghiên cứu sự vận động khách quan của một khu vực kinh tế [14]. ~ Nghiên cứu của Đỗ Đức Bình (2006) về “Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài: Kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam”. Nghiên cứu này mới chỉ đề cập tới giải pháp xử lý một số vấn đ quan ly kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình thu hút FDI tại Việt Nam giai đoạn trước gia nhập WTO.
Những vấn đề phát sinh sau gia nhập WTO mà chính sách phải can thiệp giải quyết như môi trường, quyền của người lao động phải được đảm bảo theo tiêu chí của tổ chức này chưa được đề cập tới. Hơn nữa, những giải pháp về chính sách mà nghiên cứu đua nhằm mục đích giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình thu hit FDI, không bao hàm là chính sách điều tiết đối với “khu vực” kinh tế có vối tư trực tiếp nước ngoài [2]. Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ một nước là Trung Quốc. Do vậy, phạm vi nghiên cứu có thể chưa đủ để có tính đại diện trong so sánh.
- Phan Trung Chỉnh (2007) bài báo “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI ở Hà Nội” Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước số 141. Tác giả đã phân tích các cơ chế, chính sách được áp dụng để quản lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài và qua đó nêu bậc được những vấn đề còn tồn tại và đưa ra các gải pháp để đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý một cách hiệu quả hơn [6]. - Nguyễn Thị Lan (2009) Luận án tiến sỹ “Các giải pháp quản lý nhằm hạn chế việc trồn thuế và tránh thuế ở các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thồ Việt Nam”. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu đưa ra được tác động của gian lận thuế, tránh thuế từ lý luận và thực tiễn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia trên lãnh thô Việt Nam [13].
Tuy nhiên cũng như một số nghiên cứu khác các dẫn chứng và các giải pháp tác giả đưa ra mang cục diện cả nước chưa có tính đặc trưng của vùng miễn và các số liệu nghiên cứu còn mang tính dự đoán chưa phản ánh một cách toàn diện về mức. độ trốn thuế của các công ty đa quốc gia. - Tran Quang Nam (2010) Luận án tỉ sỹ “Cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận của việc hoàn thiện với chính sách có 10 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Trong đó, làm rõ khái iệm, đặc điểm và các bộ phận cấu thành của loại chính sách này; tiêu thức đánh quản lý, chất lượng của chính sách và các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện chính sách này.
Nhìn chung tác giả đã phân tích, đánh giá xác đáng về tình hình ban hành và thực thi chính sách đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và đã nêu được các kiến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách trong thời gian tới [15].