Luận văn thạc sĩ: Quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Tân Châu, Tây Ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, cung cấp giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
91
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý chi thường xuyên NSNN tại Tân Châu

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế với đề tài “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh” là một công trình nghiên cứu khoa học hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn công tác quản lý tài chính công tại một địa phương cấp huyện. Ngân sách nhà nước (NSNN) giữ vai trò then chốt trong việc thực thi các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, là công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tăng trưởng và đảm bảo công bằng xã hội. Trong cơ cấu NSNN, chi thường xuyên là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn, nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KTXH). Việc quản lý chi thường xuyên hiệu quả có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của địa phương, đặc biệt là tại một huyện biên giới như Tân Châu, nơi có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và còn nhiều khó khăn. Quản lý tốt khoản chi này không chỉ giúp duy trì hoạt động ổn định của hệ thống chính trị mà còn tạo ra nguồn lực để tái đầu tư cho phát triển, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống người dân, góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn tập trung nghiên cứu sâu vào chu trình quản lý ngân sách tại huyện Tân Châu giai đoạn 2018-2020, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách đến năm 2025.

1.1. Tầm quan trọng của quản lý chi ngân sách cấp huyện

Theo Luật NSNN năm 2015, ngân sách cấp huyện là một bộ phận cấu thành của hệ thống NSNN, đóng vai trò trực tiếp trong việc triển khai các chính sách quốc gia tại cơ sở. Quản lý chi thường xuyên cấp huyện có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương, chất lượng dịch vụ công (giáo dục, y tế, văn hóa) và việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Một nền tài chính lành mạnh ở cấp huyện, với các khoản chi được kiểm soát chặt chẽ, sẽ giúp chống lãng phí, tiêu cực, tham ô, tạo dựng lòng tin của nhân dân. Hơn nữa, việc tiết kiệm chi thường xuyên sẽ giải phóng nguồn lực tài chính quan trọng để đầu tư vào các dự án xây dựng cơ bản, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu tại huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh

Công trình nghiên cứu này đặt ra mục tiêu chính là tìm kiếm các giải pháp khoa học và thực tiễn để tăng cường quản lý chi thường xuyên tại huyện Tân Châu. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN cấp huyện; phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tại Tân Châu giai đoạn 2018-2020, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cho giai đoạn 2021-2025. Đối tượng nghiên cứu tập trung vào toàn bộ chu trình quản lý, từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán, đến quyết toán ngân sách.

1.3. Nội dung cốt lõi của quản lý chi thường xuyên NSNN

Nội dung quản lý chi thường xuyên từ NSNN cấp huyện bao gồm bốn khâu chính. Thứ nhất là công tác lập dự toán, yêu cầu phải tính toán chính xác, có căn cứ khoa học và bám sát nhiệm vụ phát triển KTXH. Thứ hai là công tác chấp hành dự toán, đòi hỏi việc phân bổ, cấp phát và sử dụng kinh phí phải kịp thời, đúng mục đích và tiết kiệm. Thứ ba là công tác quyết toán ngân sách, khâu cuối cùng nhằm tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện, đảm bảo tính chính xác, trung thực. Cuối cùng là công tác thanh tra, giám sát, một nội dung quan trọng để đảm bảo việc sử dụng ngân sách tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa sai phạm và nâng cao trách nhiệm giải trình.

II. Thực trạng và thách thức quản lý chi thường xuyên Tân Châu

Giai đoạn 2018-2020, công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Tân Châu đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần duy trì ổn định chính trị và thúc đẩy KTXH. Tuy nhiên, qua phân tích của luận văn, quá trình này vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại và thách thức lớn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Một trong những vấn đề nổi cộm là công tác lập dự toán chưa thực sự sát với thực tế, thường xuyên phải điều chỉnh, bổ sung. Luận văn chỉ rõ: “Dự toán xây dựng chưa gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ của đơn vị, một số nhiệm vụ chi thường xuyên chưa thật sự cấp thiết, có nhiều định mức chi chưa phù hợp”. Điều này dẫn đến tình trạng bị động trong điều hành ngân sách. Bên cạnh đó, cơ cấu chi vẫn còn bất hợp lý, khi tỷ trọng chi thường xuyên luôn ở mức cao (trên 70% tổng chi ngân sách huyện), trong khi chi cho đầu tư phát triển còn hạn chế. Công tác quyết toán ngân sách ở một số đơn vị còn chậm trễ, chất lượng báo cáo chưa cao. Hoạt động thanh tra, giám sát dù được thực hiện nhưng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phát hiện và xử lý triệt để các sai phạm, gây ra tình trạng lãng phí và làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật tài chính.

2.1. Bất cập trong công tác lập và phân bổ dự toán ngân sách

Công tác lập dự toán chi thường xuyên tại nhiều đơn vị trực thuộc huyện Tân Châu còn mang tính bình quân, chưa dựa trên cơ sở phân tích, dự báo khoa học và chưa gắn liền với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Một số đơn vị xây dựng dự toán cao hơn nhu cầu thực tế, dẫn đến việc phải chuyển nguồn sang năm sau hoặc sử dụng kinh phí kém hiệu quả. Ngược lại, có trường hợp dự toán quá thấp, không đủ đáp ứng nhiệm vụ phát sinh, gây khó khăn cho hoạt động. Việc phân bổ ngân sách đôi khi chưa đủ cơ sở vững chắc, đặc biệt là trong việc xây dựng định mức chi quản lý hành chính, gây khó khăn cho công tác quản lý chung của ngành tài chính.

2.2. Cơ cấu chi ngân sách chưa tối ưu và hiệu quả sử dụng thấp

Phân tích số liệu giai đoạn 2018-2020 cho thấy, chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng chi ngân sách nhà nước của huyện. Mặc dù chi cho giáo dục và đào tạo chiếm phần lớn và là khoản chi cần thiết, nhưng chi cho quản lý hành chính vẫn còn cao. Tốc độ tăng chi thường xuyên vẫn lớn hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát triển. Điều này cho thấy nguồn lực của huyện vẫn chủ yếu dùng để duy trì bộ máy thay vì tạo ra các giá trị mới thông qua đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tình trạng lãng phí trong chi tiêu công như mua sắm trang thiết bị, sử dụng điện, nước... tại một số cơ quan vẫn còn tồn tại, làm giảm hiệu quả chung của công tác quản lý.

2.3. Hạn chế trong khâu quyết toán và kiểm soát chi tiêu công

Công tác quyết toán ngân sách hàng năm vẫn còn một số đơn vị thực hiện chưa đảm bảo thời gian quy định. Chất lượng báo cáo quyết toán chưa cao, phần thuyết minh còn sơ sài, chưa đi sâu phân tích, đánh giá để rút kinh nghiệm cho các năm sau. Hoạt động kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước dù đã chặt chẽ nhưng vai trò giám sát của Hội đồng Nhân dân và sự tham gia của người dân còn hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra đôi khi còn nể nang, ngại va chạm, chưa xử lý kiên quyết các sai phạm, làm giảm tính răn đe. Việc chưa phát hiện được nhiều sai sót lớn cho thấy hoạt động này có thể còn mang tính hình thức.

III. Giải pháp tối ưu lập và chấp hành dự toán chi thường xuyên

Để khắc phục những hạn chế hiện hữu, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào việc cải thiện hai khâu đầu tiên và quan trọng nhất của chu trình ngân sách: lập dự toánchấp hành dự toán. Nền tảng của các giải pháp này là phải nâng cao tính khoa học, thực tiễn và minh bạch trong toàn bộ quá trình. Đối với công tác lập dự toán, cần chuyển đổi từ phương pháp lập dự toán truyền thống, dựa trên định mức và số liệu năm trước, sang phương pháp lập dự toán dựa trên hiệu quả đầu ra và kết quả thực hiện nhiệm vụ (performance-based budgeting). Điều này đòi hỏi các đơn vị phải xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết, xác định rõ mục tiêu cần đạt được và lượng hóa các chỉ tiêu đánh giá. Việc xây dựng và áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật phải được rà soát, cập nhật thường xuyên để phù hợp với thực tế, tránh cào bằng. Đồng thời, cần tăng cường công tác dự báo, phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nhiệm vụ chi để xây dựng một bản dự toán có tính khả thi cao, hạn chế tối đa việc phải điều chỉnh trong năm. Quá trình này cần có sự tham gia của các bên liên quan và công khai, minh bạch để nhận được sự đồng thuận và giám sát từ xã hội.

3.1. Hoàn thiện quy trình lập dự toán gắn với mục tiêu KTXH

Giải pháp cốt lõi là xây dựng kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn 3-5 năm, làm cơ sở định hướng cho việc lập dự toán hàng năm. Kế hoạch này phải bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đảm bảo nguồn lực được phân bổ cho các lĩnh vực ưu tiên. Các đơn vị sử dụng ngân sách phải lập dự toán chi tiết, thuyết minh rõ ràng về sự cần thiết và hiệu quả dự kiến của từng khoản chi. Phòng Tài chính - Kế hoạch cần nâng cao vai trò thẩm định, kiên quyết cắt giảm các khoản chi không thực sự cần thiết, dàn trải, kém hiệu quả, đảm bảo tiết kiệmchống lãng phí ngay từ khâu đầu tiên.

3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tài chính kế toán

Con người là yếu tố quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý chi thường xuyên cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính-kế toán từ cấp huyện đến cấp xã. Nội dung đào tạo cần cập nhật các quy định mới của pháp luật, các kỹ năng phân tích, lập kế hoạch và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách. Xây dựng một đội ngũ cán bộ có chuyên môn vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và tinh thần trách nhiệm cao là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng công tác lập dự toán và quản lý tài chính công.

3.3. Tăng cường kiểm soát trong quá trình chấp hành ngân sách

Trong khâu chấp hành dự toán, vai trò của Kho bạc Nhà nước cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa. KBNN phải thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ, từ chối thanh toán các khoản chi không có trong dự toán được duyệt, không đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ hoặc sai chế độ, tiêu chuẩn. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập và cơ quan hành chính. Cơ chế này khuyến khích các đơn vị chủ động, sáng tạo trong việc sử dụng kinh phí, thực hành tiết kiệm để tăng thu nhập cho cán bộ và bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

IV. Bí quyết tăng cường quyết toán và kiểm soát chi hiệu quả

Bên cạnh việc tối ưu hóa khâu lập và chấp hành dự toán, việc tăng cường quản lý ở hai khâu cuối của chu trình là quyết toán ngân sách và thanh tra, giám sát có ý nghĩa then chốt trong việc đảm bảo tính kỷ luật, kỷ cương tài chính. Một quy trình quyết toán nhanh chóng, chính xác và một hệ thống giám sát hiệu quả sẽ giúp đánh giá đúng thực trạng sử dụng ngân sách, rút ra bài học kinh nghiệm và ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm. Để nâng cao chất lượng công tác quyết toán, cần áp dụng triệt để công nghệ thông tin, đặc biệt là Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), nhằm đồng bộ hóa dữ liệu, giảm thiểu sai sót và rút ngắn thời gian lập báo cáo. Các báo cáo quyết toán cần được yêu cầu phân tích sâu về hiệu quả các khoản chi, so sánh giữa kết quả đạt được và mục tiêu đề ra, thay vì chỉ liệt kê các con số thuần túy. Đối với hoạt động thanh tra, giám sát, cần có sự đổi mới toàn diện về phương pháp. Thay vì kiểm tra định kỳ, hình thức, cần tập trung vào các cuộc thanh tra, kiểm toán chuyên đề đối với những lĩnh vực, đơn vị có rủi ro cao về lãng phí, tham nhũng.

4.1. Hiện đại hóa công tác kế toán và quyết toán ngân sách

Việc ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp tất yếu. Cần đảm bảo 100% đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn huyện Tân Châu kết nối và khai thác hiệu quả hệ thống TABMIS và các phần mềm kế toán, quản lý tài sản công. Điều này giúp tự động hóa nhiều quy trình, đảm bảo tính nhất quán, minh bạch của số liệu từ Kho bạc, cơ quan tài chính đến đơn vị sử dụng ngân sách. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm và thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách, có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp chậm trễ, báo cáo không đảm bảo chất lượng.

4.2. Đổi mới hoạt động thanh tra kiểm tra tài chính công

Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, đột xuất và có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung kiểm tra không chỉ là tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ mà phải đi sâu vào đánh giá tính kinh tế, hiệu quả của khoản chi (kiểm soát chi theo kết quả). Kết luận thanh tra phải rõ ràng, kiến nghị xử lý phải cụ thể và việc thực hiện các kiến nghị phải được theo dõi, đôn đốc đến cùng. Cần công khai kết quả thanh tra để tăng cường tính răn đe và trách nhiệm giải trình, góp phần chống lãng phí và tiêu cực trong quản lý tài chính.

4.3. Phát huy vai trò giám sát của HĐND và cộng đồng

Tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân huyện (HĐND) thông qua các hoạt động thẩm tra dự toán, phê chuẩn quyết toán và các phiên chất vấn về quản lý chi thường xuyên. Bên cạnh đó, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, công khai, minh bạch toàn bộ thông tin về dự toán, phân bổ và quyết toán ngân sách để người dân và các tổ chức xã hội có thể tham gia giám sát. Sự giám sát đa chiều từ HĐND, Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng sẽ tạo ra áp lực tích cực, buộc các cơ quan nhà nước phải sử dụng ngân sách một cách có trách nhiệm và hiệu quả hơn.

V. Kết luận luận văn Hướng tới quản lý ngân sách bền vững

Luận văn thạc sĩ “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh” đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Công trình không chỉ hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện mà còn đi sâu phân tích thực trạng tại một địa bàn cụ thể, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu một cách khách quan. Những hạn chế được nhận diện như công tác lập dự toán chưa sát thực tế, cơ cấu chi chưa hợp lý, và hiệu quả kiểm soát chi chưa cao là những vấn đề mang tính phổ biến ở nhiều địa phương. Từ đó, các nhóm giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, toàn diện và có tính khả thi cao, bao trùm tất cả các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Việc áp dụng thành công các giải pháp này sẽ tạo ra một bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý tài chính công tại huyện Tân Châu, giúp sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực từ ngân sách nhà nước, tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí, và tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đây là nền tảng vững chắc để huyện Tân Châu thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.

5.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ hơn các khái niệm, nội dung và vai trò của quản lý chi thường xuyên trong hệ thống tài chính công. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất là tài liệu tham khảo quý báu không chỉ cho lãnh đạo UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Tân Châu mà còn có thể vận dụng cho các huyện, thị xã khác có điều kiện tương tự. Nó cung cấp một cái nhìn toàn diện và các công cụ cụ thể để cải thiện công tác quản lý ngân sách tại địa phương.

5.2. Kiến nghị và định hướng tương lai cho Tân Châu

Để các giải pháp đi vào cuộc sống, luận văn kiến nghị Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tân Châu cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc đổi mới công tác quản lý tài chính. Cần xây dựng một lộ trình cụ thể để triển khai các giải pháp, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc và đánh giá. Về lâu dài, cần tiếp tục đầu tư cho việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách, trao quyền tự chủ mạnh mẽ hơn cho các đơn vị cơ sở đi đôi với tăng cường trách nhiệm giải trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện tân châu tỉnh tây ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về chỉ thường xuyên và quản lý chỉ thường xuyên từ NSNN cấp huyện. Chương II: Thực trạng quản lý chỉ thường xuyên từ ngân sách huyện Tân Châu giai đoạn 2018 - 2020. Chương III: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chỉ thường xuyên trên địa bàn huyện Tân Châu. Chuong 1 CO SO LY LUAN VE CHI THUONG XUYEN VA QUAN LY CHI THUONG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CAP HUYE 1.

Tổng quan về ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách nhà nước. Khái niệm ngân sách nhà nước “Ngân sách nhà nước là toàn. ác khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có. thấm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

[21] NSNN gồm 2 loại đó là: “Ngân sách địa phương: là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chỉ NSNN thuộc nhiệm vụ chỉ của cấp địa phương”. [21] “Ngân sách trung ương: là các khoản thu NSNN phân cấp cho cấp trung ương, hưởng và các khoản chỉ NSNN thuộc nhiệm vụ chỉ của cấp trung ương”. Vai trò của ngân sách nhà nước Ngoài vai trò quan trọng là công cụ tài chính của Nhà nước, NSNN còn được xem là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đóng vai trò không thể thiếu đối với nước ta. NSNN thể hiện vai trò ở một số.

i dung cơ bản sau: Thứ nhất, vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế: NSNN cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và đầu tư cho các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn. NSNN còn có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để giúp cho các doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất góp phần làm cho nền kinh tẾ nước ta tăng trưởng và phát triển. Nhờ ngân sách ta có thể tranh thủ các nguồn vay trong và ngoài nước để tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm thỏa mãn cho nhu cầu đầu tư phát triển. Thứ hai, điều tiết thị trường giá cả và chống lạm phát: Đề đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng ngân sách để can thiệp.

vào thị trường thông qua các khoản chỉ của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trừ Nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính. Trong quá trình điều chỉnh thị trường, NSNN còn tác động đến hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soát lạm phát. Khi có lạm phát: Nhà nước rút tiền đang lưu thông vào hệ thống các Ngân hàng bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng. Để chống lạm phát Nhà nước áp dụng các biện pháp: giải quyết cân đối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành.

trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tư cách là người mua và bán chứng khoán. Thứ ba, điều tiết thu nhập dân cư: Với sự phân hóa kinh tế xã hội hiện nay, Nhà nước cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. NSNN là mí công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng đề điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội ở cả hai mặt thu và chỉ bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chỉ phúc lợi công cộng, chỉ trợ cấp với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, 1. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cắp quản lý kinh tế - xã hội” [21] Theo Điều 9 Luật NSNN năm 2015: Phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chỉ phải đảm bảo các nguyên tắc sau: “Ngân sách Trung ương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thể: Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chỉ quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương.

Ngân sách địa phương được phân cấp. nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chỉ được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ giữa các cấp. ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.

Nhiệm vụ chỉ thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chỉ ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng. cấp; việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo. đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước.

thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách. cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chỉ của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ. quan cấp dưới được ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ chỉ đó. Cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phí này.

Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương” (21). 'Tóm lại, để phân cấp quản lý NSNN diễn ra hiệu quả, cần phải có chủ trương đúng đắn, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện tô chức thực hiện, đồng thời phải có sự vào cuộc một cách mạnh mẽ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, bên cạnh đó cần tăng cường minh bạch, sự vô tư, trong sạch của các tô chức và cá nhân tham gia vào quá trình xây dựng, tổ chức đổi mới phân cấp quản lý NSNN nói riêng và quản lý NSNN, quản lý kinh tế xã hội nói chung. Chức năng của ngân sách nhà nước NSNN có chức năng vô cùng quan trong trong nền kinh tế cũng như đời sống. Ngoài chức năng ôn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát, thúc đây kinh tế tăng trưởng, theo các nhà kinh tế thì NSNN còn có chức năng phân phối và giám.

đốc, mỗi chức năng thể hiện những đặc trưng riêng: Thứ nhất, NSNN có chức năng phân phố Phân phối lần đầu là phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội, cùng với các nguồn tài chính khác dưới hình thức động viên các nguồn thu vào NSNN theo các quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các văn bản khác, sau đó phân phối lại thông qua các khoản chỉ đầu tư phát triển và chỉ thường xuyên cho nền kinh tế - xã “Thứ hai, chức năng giám đốc: là hệ quả của chức năng phân phối, tùy thuộc vào. triển khai chức năng phân phối, chức năng giám đốc của NSMN là việc kiểm tra, kiểm soát tình hình thu, chỉ NSNN, nhưng nếu chỉ nhìn nhận ở phạm vi hai chức 10 năng trên của NSNN thì chức năng của NSNN chỉ mới có ý nghĩa quá trình phân chia số học, chưa thê hiện rõ ý nghĩa kinh tế tông hợp và bao quát của chức năng. Do đó, chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp các khoản thu và các khoản chỉ, sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách, nghĩa là luôn giữ vững mối quan hệ va loại bỏ sự tủy tiện giữa thu và chỉ ngân sách trong phạm vỉ thời gian ấn định không tách rời nhau. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 thì *NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương” [21].

Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Cơ cầu NSNN được mô tả theo sơ đồ sau: Hình 1.1 Cơ cấu hệ thống NSNN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ngân sách Trung ương oN + Ngân sách cấp tỉnh 5 3 { = Ngôn sách cấp huyện (quận/ s huyện/ thị xã) 3§ »[ Ngân } sách - cấp xã z (xõ/phường/ thị trấn) Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung và dân chủ, các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chỉ tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam. Tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với việc tô chức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí bộ máy đó trong quá trình phát triển KTXH của đất nước, trên cơ sở Hiến pháp, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng, cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thô.

Việc hình thành hệ thông. chính quyền Nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng của đất nước. Ngân sách cấp huyện trong hệ thống ngân sách nhà nước Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành, NSĐP bao gồm: ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách trực thuộc ngân sách địa phương.

NSĐP thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chỉ của Nhà nước tại địa phương, cùng NSTW thực hiện vai trò của NSNN, điều tiết nền kinh tế vĩ mô, kích thích tăng trưởng nền kinh tế và chống lạm phát. Việc huy động các khoản thuế theo quy định của pháp luật và phân bồ chỉ tiêu hợp lý của ngân sách cấp huyện sẽ góp phần ồn định kinh tế, thúc đây nền kinh tế của huyện ngày càng phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ