Luận văn thạc sĩ: Quản lý chi thường xuyên NSNN huyện Tây Giang, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

99
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá luận văn quản lý chi thường xuyên ngân sách Tây Giang

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về "Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam" là một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và giải pháp cho công tác quản lý tài chính công tại một huyện miền núi đặc thù. Đề tài này không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho địa phương. Nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá chi tiết quy trình quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Tây Giang trong giai đoạn 2014-2018. Thông qua đó, luận văn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý, đảm bảo các khoản chi được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, cán bộ làm công tác tài chính và những ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính công, đặc biệt là trong bối cảnh phân cấp quản lý ngân sách ngày càng được đẩy mạnh.

1.1. Tầm quan trọng của quản lý tài chính công cấp huyện

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện giữ vai trò nền tảng trong việc duy trì hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu. Theo tác giả Lê Thị Phương, chi thường xuyên là nhiệm vụ chi nhằm "bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội... và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh". Việc quản lý hiệu quả nguồn chi này không chỉ đảm bảo sự vận hành ổn định của UBND huyện Tây Giang và các đơn vị trực thuộc mà còn tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Một cơ chế kiểm soát chi ngân sách chặt chẽ giúp ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, đồng thời tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực hạn chế, góp phần thực hiện công bằng xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các địa bàn khó khăn như Tây Giang.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài khoa học

Luận văn đặt ra ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể và rõ ràng. Thứ nhất, hệ thống hóa các cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện. Thứ hai, phân tích và đánh giá sâu sắc thực trạng quản lý ngân sách tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014-2018, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Cuối cùng, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách tại huyện đến năm 2025. Các mục tiêu này tạo thành một lộ trình nghiên cứu logic, từ lý luận đến thực tiễn và đề xuất chính sách, thể hiện tính cấp thiết và giá trị ứng dụng cao của đề tài nghiên cứu khoa học.

1.3. Tổng quan cơ sở lý luận về chi ngân sách nhà nước

Chương 1 của luận văn đã xây dựng một nền tảng lý luận vững chắc. Các khái niệm cốt lõi như chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên, và quản lý chi thường xuyên được định nghĩa rõ ràng theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015. Các nguyên tắc quản lý quan trọng được nhấn mạnh, bao gồm nguyên tắc quản lý theo dự toán, tuân thủ chế độ, tiêu chuẩn, định mức, và đặc biệt là nguyên tắc công khai minh bạch ngân sách. Nội dung quản lý được chia thành bốn khâu chính: lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán, và thanh tra-kiểm tra. Đây là khuôn khổ lý thuyết quan trọng để soi chiếu và đánh giá thực tiễn công tác quản lý tại huyện Tây Giang trong các chương sau.

II. Thách thức trong quản lý chi ngân sách tại huyện Tây Giang

Việc phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên tại huyện Tây Giang giai đoạn 2014-2018 cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Huyện Tây Giang là một huyện miền núi có đặc điểm kinh tế xã hội đặc thù, quy mô kinh tế nhỏ, nguồn thu ngân sách trên địa bàn còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào trợ cấp từ ngân sách cấp trên. Điều này tạo áp lực lớn lên việc cân đối ngân sách địa phương. Luận văn chỉ ra rằng, công tác quản lý từ khâu lập dự toán đến quyết toán vẫn còn những tồn tại nhất định. Việc lập dự toán đôi khi chưa sát với thực tế, công tác chấp hành dự toán còn tình trạng bổ sung ngoài dự toán, và quy trình kiểm soát chi vẫn cần được siết chặt hơn để nâng cao hiệu quả chi tiêu công. Những hạn chế này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển dài hạn của huyện.

2.1. Thực trạng kinh tế và nguồn thu ngân sách địa phương

Tây Giang là huyện miền núi với dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc Cơ Tu (94%). Mặc dù kinh tế có tăng trưởng, nhưng quy mô còn nhỏ và chưa bền vững. Theo số liệu trong luận văn, tổng thu ngân sách địa phương giai đoạn 2014-2018 tăng, nhưng nguồn thu từ cân đối ngân sách chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 23,34% năm 2018). Phần lớn nguồn thu đến từ bổ sung của ngân sách cấp trên. Thực trạng này cho thấy huyện chưa thể tự chủ ngân sách, gây khó khăn trong việc chủ động triển khai các nhiệm vụ chi phát sinh. Sự phụ thuộc lớn vào ngân sách cấp trên đòi hỏi một cơ chế quản lý tài chính công chặt chẽ hơn để đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả nhất.

2.2. Hạn chế trong lập và chấp hành dự toán chi thường xuyên

Luận văn chỉ ra một số hạn chế trong công tác dự toán và quyết toán ngân sách. Việc lập dự toán chi thường xuyên đôi khi còn dàn trải, chưa thực sự bám sát nhiệm vụ trọng tâm. Tình hình bổ sung ngoài dự toán còn xảy ra (Bảng 2.10), cho thấy việc dự báo nhu cầu chi chưa chính xác. Trong khâu chấp hành, mặc dù đã có sự kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, nhưng vẫn còn những khoản chi chưa thực sự tiết kiệm, hiệu quả. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tài chính tại một số đơn vị sử dụng ngân sách còn chưa đồng đều (Bảng 2.7), ảnh hưởng đến chất lượng quản lý. Đây là những điểm nghẽn cần được khắc phục để đảm bảo kỷ luật tài khóa.

2.3. Bất cập trong kiểm soát thanh tra và quyết toán ngân sách

Công tác thanh tra, kiểm tra tài chính dù đã được thực hiện nhưng số lượng các cuộc thanh tra còn hạn chế. Theo Bảng 2.15, trong 5 năm (2014-2018) chỉ có 11 cuộc thanh tra về quản lý tài chính. Điều này làm giảm tính răn đe và khả năng phát hiện sớm các sai phạm. Công tác quyết toán ngân sách tuy đã tuân thủ quy trình nhưng việc thẩm định, xét duyệt đôi khi còn chậm, ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin quản lý. Việc tăng cường kiểm soát chi ngân sách và đẩy mạnh thanh tra, giám sát là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng ngân sách nhà nước tại huyện.

III. Giải pháp hoàn thiện công tác lập và chấp hành dự toán chi

Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào việc hoàn thiện các khâu cốt lõi trong quy trình quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Mục tiêu chính là nâng cao chất lượng từ khâu lập dự toán, siết chặt kỷ luật trong khâu chấp hành, và tối ưu hóa cơ cấu chi thường xuyên để phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu phát triển của huyện Tây Giang. Các giải pháp này được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng địa phương và các quy định của pháp luật, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả khi áp dụng. Việc triển khai thành công các giải pháp này sẽ góp phần quan trọng vào việc sử dụng ngân sách một cách tiết kiệm, minh bạch và hiệu quả hơn.

3.1. Nâng cao chất lượng dự toán và phân bổ ngân sách

Giải pháp hàng đầu là phải nâng cao chất lượng công tác lập dự toán. Dự toán cần được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực hiện của các năm trước và dự báo sát với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm kế hoạch. Cần áp dụng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu một cách nghiêm ngặt. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện cần tăng cường hướng dẫn, thẩm định kỹ lưỡng dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách, kiên quyết cắt giảm những khoản chi không thực sự cần thiết, dàn trải. Quá trình phân cấp quản lý ngân sách cần đi đôi với việc xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị trong việc xây dựng và bảo vệ dự toán.

3.2. Tăng cường kỷ luật tài khóa trong chấp hành dự toán

Để đảm bảo hiệu quả chi tiêu công, cần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong quá trình chấp hành dự toán. Mọi khoản chi phải được thực hiện trong phạm vi dự toán đã được HĐND huyện phê duyệt. Hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán, chỉ giải quyết các trường hợp thật sự cấp bách và đột xuất. Kho bạc Nhà nước huyện cần phát huy vai trò kiểm soát chi ngân sách, kiên quyết từ chối thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện, sai chế độ. Thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc quản lý và sử dụng kinh phí được giao, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

IV. Phương pháp tăng cường kiểm soát và công khai ngân sách

Bên cạnh việc hoàn thiện khâu lập và chấp hành dự toán, các giải pháp về tăng cường kiểm soát, thanh tra và đẩy mạnh công khai, minh bạch đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra một môi trường quản lý tài chính lành mạnh. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện quy trình quyết toán, tăng cường hoạt động thanh tra tài chính để phòng ngừa và xử lý kịp thời các sai phạm. Đồng thời, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành tài chính và ứng dụng công nghệ thông tin là những giải pháp hỗ trợ không thể thiếu, giúp hệ thống quản lý ngân sách của huyện Tây Giang vận hành trơn tru và hiệu quả hơn. Đây là những bước đi cần thiết để hướng tới một nền tài chính công huyện Tây Giang bền vững.

4.1. Hoàn thiện quy trình quyết toán và thanh tra tài chính

Công tác quyết toán cần được thực hiện đúng thời gian quy định, số liệu báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và được đối chiếu, xác nhận bởi Kho bạc Nhà nước. Cần tăng cường tần suất và chất lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra tài chính tại các đơn vị sử dụng ngân sách, tập trung vào những lĩnh vực có rủi ro cao. Kết luận thanh tra phải được công khai và các kiến nghị xử lý sai phạm phải được thực hiện nghiêm túc. Việc này không chỉ giúp thu hồi cho ngân sách các khoản chi sai quy định mà còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai.

4.2. Đẩy mạnh công khai minh bạch ngân sách để tăng giám sát

Đây là một trong những giải pháp đột phá, phù hợp với xu thế chung của cải cách tài chính công. Công khai minh bạch ngân sách từ khâu dự toán, phân bổ, đến quyết toán là cơ sở để người dân và các tổ chức xã hội thực hiện quyền giám sát. UBND huyện Tây Giang cần chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc quy chế công khai tài chính theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Việc công khai thông tin giúp tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng lòng tin và tạo sự đồng thuận trong xã hội về các chính sách tài khóa của địa phương.

4.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tài chính

Con người là yếu tố quyết định. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, kế toán từ cấp huyện đến cấp xã và các đơn vị sự nghiệp. Ưu tiên tuyển dụng và có chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút cán bộ có trình độ cao về công tác tại huyện. Một đội ngũ cán bộ vững vàng về chuyên môn, liêm chính trong công việc là nhân tố đảm bảo cho các giải pháp quản lý được thực thi hiệu quả.

V. Kết luận và kiến nghị từ luận văn quản lý kinh tế Tây Giang

Công trình nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Tây Giang đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra. Luận văn không chỉ là một luận án tiến sĩ quản lý kinh tế tiềm năng mà còn là một tài liệu tham khảo thực tiễn, cung cấp một bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý tài chính tại một địa bàn khó khăn. Các phân tích, đánh giá được thực hiện một cách khoa học, dựa trên số liệu xác thực. Quan trọng hơn, các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có tính hệ thống, khả thi, và bám sát định hướng cải cách tài chính công của quốc gia. Việc áp dụng những kết quả nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại những thay đổi tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả chi tiêu công và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho huyện Tây Giang trong tương lai.

5.1. Tóm tắt phát hiện và các giải pháp chính của nghiên cứu

Nghiên cứu khẳng định rằng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Tây Giang đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế liên quan đến việc lập dự toán chưa sát, chấp hành chưa nghiêm, và kiểm soát chưa chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu đến từ đặc thù kinh tế - xã hội, sự phụ thuộc vào ngân sách cấp trên và năng lực quản lý còn hạn chế. Từ đó, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chính: (1) Hoàn thiện công tác lập dự toán; (2) Hoàn thiện công tác chấp hành dự toán; (3) Hoàn thiện công tác quyết toán; (4) Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, cùng các giải pháp hỗ trợ về nhân lực và công nghệ.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ huyện Hiệp Đức và Núi Thành

Luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của huyện Hiệp Đức và Núi Thành, từ đó rút ra những bài học quý giá cho Tây Giang. Các bài học bao gồm: (1) Phân cấp quản lý mạnh mẽ đi đôi với xác định rõ trách nhiệm; (2) Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, hạn chế ứng trước dự toán; (3) Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc, Thuế; (4) Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn tốt mà Tây Giang có thể tham khảo và vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.

5.3. Kiến nghị chính sách với UBND tỉnh Quảng Nam và Chính phủ

Để các giải pháp phát huy hiệu quả, luận văn cũng đưa ra các kiến nghị vĩ mô. Đối với UBND tỉnh Quảng Nam, cần ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ các huyện miền núi khó khăn như Tây Giang, tăng cường phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi hợp lý. Đối với Chính phủ và Bộ Tài chính, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý tài chính công, đặc biệt là các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cho vùng sâu, vùng xa, đồng thời hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các địa phương. Những kiến nghị này thể hiện tầm nhìn và trách nhiệm của tác giả, vượt ra khỏi phạm vi một huyện.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện tây giang tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CHI THUONG XUYEN NSNN CÁP HUYỆN 1. TONG QUAN VE CHI THUONG XUYEN VA QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của chỉ thường xuyên NSNN. Khái niệm Theo Luật NSNN 2015 thì Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [19].

Theo Điều 6, Luật NSNN 2015, “Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương”. Ngân sách Trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp Trung ương hưởng và các khoản chỉ ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chỉ của cấp Trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương. Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cắp cho cấp địa phương hưởng, thu bỗ sung từ ngân sách trung. ương cho ngân sách địa phương và các khoản chỉ ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chỉ của cấp địa phương, bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Ngân sách địa phương gồm ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phó thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp xã, phường, thị trắn [19]. Ngân sách nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, 10 chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện. Chỉ ngân sách nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng các ngồn tài chính được tập trung vào quỹ NSNN từ các khoản thu của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chỉ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, giúp bộ máy nhà nước vận hành và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong từng thời kỳ. Chỉ NSNN bao gồm các khoản chỉ: chỉ đầu tư phát triển, chỉ dự trữ quốc gia, chỉ thường xuyên, chỉ trả nợ lãi, chỉ viện trợ và các khoản chỉ khác theo quy định [19].

Chỉ thường xuyên NSNN là nhiệm vụ chỉ của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (Bùi Tiến Hanh, Đặng Văn Du (2018)) [09]. Từ khái niệm 'Chỉ thường xuyên NSNN" ta có thể rút ra khái niệm về Chỉ thường xuyên ngân sách cấp huyện như sau: Chỉ thường xuyên ngân sách cấp huyện là quá trình phân phối, sử dụng nguôn lực tài chính của nhà nước cấp huyện nhằm trang trải, đáp ứng những nhu cầu chỉ của các cơ quan nhà nước, các tô chức chính trị-xã hội thuộc khu vực công của huyện, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn huyện vẻ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an nỉnh. Đặc điễn của chỉ thường xuyên NSNN Chỉ thường xuyên ngân sách huyện có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chỉ của NSNN cấp huyện, giúp cho bộ máy chính quyền cấp huyện duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội. Do vậy, chỉ thường xuyên ngân sách có những đặc điểm sau [09]: Thứ nhất, chỉ thường xuyên NSNN là chỉ tiêu công của quốc gia có qui 11 mô lớn, phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp: gắn chặt với tô chức bộ máy nhà nước và các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Các khoản chỉ thường xuyên NSNN mang tính ôn định tương đối và không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu [09]. Thứ hai, chỉ thường xuyên NSNN có cơ cấu chỉ theo niên độ, mục đích cuối cùng của vốn cấp phát thì chỉ thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp có hiệu lực tác động trong thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội [09]. Thứ ba, các nhiệm vụ thường xuyên hàng năm của Nhà nước ít có sự biến động nên tổng mức, tỷ trọng trong chỉ NSNN, nội dung và cơ cấu chỉ thường xuyên NSNN ít có sự biến động lớn giữa các năm ngân sách [09]. Thứ tư, chỉ thường xuyên NSNN nhằm duy trì sự tồn tại, trang trải các chỉ phí họa động thường xuyên của bộ máy nhà nước và cung cấp các dịch vụ, sự nghiệp công thiết yếu (về giáo dục, y tế, an sinh xã hội,.) cho người dân nên các khoản chỉ thường xuyên NSNN không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội và thường chỉ phát huy hiệu lực tác động trong năm NS [09].

Nội dung của chỉ thường xuyên NSNN Nội dung chỉ thường xuyên NSNN được xét theo lĩnh vực chỉ và xét theo nội dung kinh tế của các khoản chỉ thường xuyên. * Căn cứ vào tính chất kinh tế, chỉ thường xuyên gồm 4 nhóm sau: ~ Nhóm các khoản chỉ thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lương; phụ cấp lương; học bồng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; chỉ về công. tác người có công với cách mạng và xã hội; chỉ lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội: các khoản thanh toán khác cho cá nhân. ~ Nhóm các khoản chỉ nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyền liên lạc; hội nghị; công 12 tác phí; chỉ phí thuê mướn; chỉ sửa chữa thường xuyên; chỉ phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành.

- Nhóm các khoản chỉ mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công. trình cơ sở hạ tầng; chỉ mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công. ~ Nhóm các khoản chỉ thường xuyên khác gồm: các nhóm mục của mục lục Ngân sách nhà nước không nằm trong 3 nhóm mục trên và các mục từ mục 147 đến mục 150 thuộc khoản chỉ thường xuyên trong mục lục Ngân sách nhà nước. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, chỉ thường xuyên bao gồm: - Chỉ sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý KT-XH và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi.

Mục đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tẾ không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chỉ đáp ứng hoạt động của các đơn vị này. Chỉ sự nghiệp kinh tế bao gồi - Chỉ SN Nông nghiệp, thuỷ lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, thị chính và kinh tế công cộng khác. tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp; Chi về bản đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính; Chỉ định canh, định cư và kinh tế mới. - Chỉ sự nghiệp Văn hoá - Xã hội: Chỉ SN Giáo dục - Đào tạo; Chỉ SN Y tế; SN Văn hóa - Thông tin; SN Thẻ dục - Thể thao; SN Phát thanh -Truyền hình; SN Khoa học - Công nghệ và môi trường; SN xã hội: SN văn xã khác.

13 ~ Chỉ Quản lý hành chính: Là các khoản chỉ cho hoạt động của các cơ quan Hành chính Nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. - Chỉ về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; Chỉ về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân Việt Nam. Đây là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta, do vậy theo quy định của luật NSNN, NSNN có trách nhiệm bố trí chi NS dam bảo hoạt động của các tổ chức này. - Chỉ trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Chỉ các chương trình quốc gia; Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; Chỉ tài trợ cho các tô chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Chỉ trả lãi tiền do Nhà nước vay; Chỉ viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài và các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật. Quản lý chỉ thường xuyên NSNN Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều cách đưa ra khái niệm về quản lý chỉ thường xuyên NSNN. Theo Bùi Tiến Hanh, Đặng Văn Du (2018) thì Quản lý chỉ thường xuyên NSNN là quản lý toàn bộ các khoản chỉ thường xuyên của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thấm quyên quyết định, sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chỉ thường xuyên NSNN nhằm các khoản chỉ thường xuyên được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả; đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Theo đó: Chủ thể quản lý chỉ thường xuyên NSNN là các cơ quan quản lý nhà nước có thâm quyền các cắp và các đơn vị dự toán ngân sách.

Đối tượng quản lý là hoạt động chỉ thường xuyên NSNN ở các khâu như 14 lập và phân bổ dự toán, chấp hành dự toán, kiểm soát thanh toán và quyết toán các khoản chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước. Công cụ quản lý chỉ thường xuyên NSNN là các chế độ, chính sách; các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Mục tiêu quản lý chỉ thường xuyên NSNN là đảm bảo kỷ luật tài khóa, hiệu quả phân bổ, hiệu quả hoạt động trong thực hiện nhiệm vụ chỉ thường xuyên NSNN. Do vậy, quản lý chỉ thường xuyên NSNN cần chú trọng tỉnh giản các thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và trách nhiệm giải trình cho các cấp, các cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả chỉ thường xuyên NSNN.

Vai trò của quản lý chỉ thường xuyên NSNN Thứ nhất, đảm bảo nguồi tài chính cho hoạt động của các cơ quan nhà nước; là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ