Luận văn thạc sĩ: Quản lý chi ngân sách cho giáo dục huyện Ia H'Drai, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục của huyện ia, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục Ia H Drai

Giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) cho sự nghiệp giáo dục luôn chiếm một tỷ trọng lớn và giữ vai trò cốt lõi trong tổng chi NSNN. Công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục là quá trình tổ chức, điều hành và ra quyết định của các cơ quan có thẩm quyền nhằm phân phối và sử dụng nguồn lực công một cách hiệu quả nhất. Hoạt động này không chỉ đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy ngành giáo dục mà còn trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai. Tại huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum, một địa phương miền núi còn nhiều khó khăn, việc quản lý hiệu quả nguồn ngân sách này càng trở nên cấp thiết. Luận văn của tác giả Nguyễn Quang Thọ (2022) đã chỉ ra rằng, mặc dù các khoản chi của NSNN cho giáo dục rất lớn, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và cải thiện đời sống cho cán bộ, giáo viên. Do đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên là yêu cầu khách quan, giúp sử dụng nguồn lực hạn hẹp một cách tiết kiệm và đạt hiệu quả tối đa. Việc quản lý hiệu quả không chỉ giúp các đơn vị trường học thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương. Quá trình này bao gồm nhiều khâu chặt chẽ, từ lập dự toán, chấp hành dự toán, đến quyết toán ngân sách và công tác thanh tra, kiểm tra. Mỗi khâu đều đòi hỏi sự khoa học, minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc quản lý tài chính công.

1.1. Vai trò của chi thường xuyên ngân sách nhà nước với giáo dục

Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là nguồn lực tài chính chủ yếu để duy trì và phát triển các hoạt động giáo dục công lập. Nguồn kinh phí này đảm bảo chi trả lương, phụ cấp và các chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, một yếu tố quyết định đến chất lượng giảng dạy. Theo luận văn, "tiền lương và phụ cấp và các chế độ cho giáo viên đều do Ngân sách Nhà nước đảm bảo", một chế độ tiền lương hợp lý sẽ giúp giáo viên yên tâm công tác. Bên cạnh đó, nguồn chi này còn dùng để mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sửa chữa cơ sở vật chất, góp phần hiện đại hóa môi trường giáo dục. Hơn nữa, sự đầu tư của Nhà nước thông qua chi thường xuyên còn có tác dụng định hướng, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn lực xã hội hóa, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

1.2. Nguyên tắc cốt lõi trong quản lý ngân sách giáo dục tại Ia H Drai

Công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục phải tuân thủ ba nguyên tắc cơ bản. Thứ nhất là nguyên tắc quản lý theo dự toán, mọi khoản chi phải được ghi trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đây là "chỉ tiêu pháp lệnh" nhằm hạn chế sự tùy tiện. Thứ hai là nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đòi hỏi việc phân bổ và sử dụng nguồn lực phải đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Nguyên tắc này được thực hiện thông qua việc xây dựng các định mức chi tiêu phù hợp và xác định thứ tự ưu tiên hợp lý. Cuối cùng là nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước (KBNN), nhằm tăng cường kiểm soát, đảm bảo mọi khoản chi đều được kiểm tra chặt chẽ trước khi thanh toán, góp phần nâng cao tính minh bạch và kỷ luật tài chính.

II. Thực trạng và thách thức quản lý chi NSNN cho giáo dục Ia H Drai

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục tại huyện Ia H'Drai giai đoạn 2016-2020 vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Theo kết quả khảo sát và phân tích trong luận văn, các bất cập tồn tại ở tất cả các khâu của chu trình ngân sách. Cụ thể, những hạn chế liên quan đến tổ chức bộ máy quản lý, trình độ năng lực của cán bộ còn yếu, và các nội dung quản lý chưa thực sự hiệu quả. Việc lập dự toán còn chậm, sơ sài, thiếu căn cứ vững chắc, dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần trong năm. Công tác chấp hành dự toán chưa nghiêm túc, tình trạng mua sắm, sửa chữa tài sản còn nhiều bất cập, gây lãng phí. Khâu quyết toán ngân sách chưa chặt chẽ, báo cáo còn chậm trễ, số liệu chưa đảm bảo tính chính xác và khớp đúng với cơ quan tài chính. Đặc biệt, công tác thanh tra, kiểm tra các khoản chi chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến việc phát hiện và xử lý vi phạm còn hạn chế. Những tồn tại này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng NSNN mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và sự phát triển chung của huyện. Việc xác định rõ những thách thức này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên trong giai đoạn tiếp theo, nhằm đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong khâu lập và chấp hành dự toán chi tiêu

Công tác lập dự toán tại các đơn vị trường học của huyện Ia H'Drai vẫn còn mang tính hình thức, chưa bám sát thực tiễn. Luận văn chỉ rõ: "Việc lập dự toán chậm còn sơ sài". Nhiều dự toán được xây dựng không dựa trên việc phân tích kỹ lưỡng nhu cầu thực tế và các định mức chi tiêu hiện hành, dẫn đến chất lượng dự toán thấp. Trong khâu chấp hành dự toán, việc tuân thủ kỷ luật tài chính chưa nghiêm. Tình trạng chi vượt dự toán, chi sai mục đích vẫn còn xảy ra. Việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP tại một số đơn vị còn lúng túng, chưa phát huy được hiệu quả như mong đợi.

2.2. Bất cập trong công tác quyết toán và thanh tra kiểm tra

Quy trình quyết toán ngân sách tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục còn nhiều yếu kém. Báo cáo quyết toán thường nộp chậm so với thời gian quy định, gây khó khăn cho công tác tổng hợp của cơ quan tài chính. Số liệu trong báo cáo đôi khi thiếu chính xác, chưa được đối chiếu kỹ lưỡng với Kho bạc Nhà nước, dẫn đến tình trạng không khớp đúng. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa được quan tâm đúng mức. Tần suất kiểm tra thấp, nội dung kiểm tra chưa sâu, chủ yếu tập trung vào tính hợp lệ của chứng từ mà chưa đánh giá được tính hiệu quả của khoản chi. Việc xử lý các sai phạm phát hiện qua thanh tra chưa đủ sức răn đe, làm giảm hiệu lực của công tác quản lý.

2.3. Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trong quản lý ngân sách

Các hạn chế trong quản lý chi thường xuyên NSNN xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, huyện Ia H'Drai là địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguồn thu ngân sách hạn hẹp. Hệ thống văn bản pháp quy, cơ chế, chính sách về quản lý tài chính công đôi khi còn chồng chéo, chưa đồng bộ. Về chủ quan, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, kế toán tại các trường học còn hạn chế, chưa được đào tạo, bồi dưỡng kịp thời. Nhận thức của một số lãnh đạo đơn vị về tầm quan trọng của việc quản lý tài chính, ngân sách chưa đầy đủ. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Giáo dục & Đào tạo và KBNN đôi lúc chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ.

III. Giải pháp hoàn thiện bộ máy và quy trình lập dự toán chi NSNN

Để khắc phục những tồn tại, giải pháp trọng tâm đầu tiên là hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao chất lượng công tác lập dự toán chi thường xuyên NSNN. Một bộ máy quản lý được tổ chức khoa học, phân công, phân nhiệm rõ ràng là tiền đề để vận hành thông suốt chu trình ngân sách. Cần xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan liên quan như UBND huyện, Phòng TC-KH, Phòng GD&ĐT và các đơn vị trường học. Việc tăng cường phân cấp quản lý đi đôi với giao quyền tự chủ tài chính một cách thực chất sẽ giúp các đơn vị chủ động hơn trong việc sử dụng ngân sách. Song song đó, việc nâng cao chất lượng công tác lập dự toán là yếu tố then chốt. Dự toán phải được xây dựng dựa trên các căn cứ vững chắc, bao gồm: chủ trương phát triển giáo dục của địa phương, các chỉ tiêu kế hoạch về số lượng trường lớp, học sinh, giáo viên, và đặc biệt là hệ thống định mức chi tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành. Quá trình lập dự toán cần có sự tham gia của các bộ phận chuyên môn và được công khai, thảo luận dân chủ tại đơn vị. Điều này giúp dự toán bám sát thực tế, có tính khả thi cao, hạn chế việc phải điều chỉnh, bổ sung ngân sách trong năm, từ đó nâng cao hiệu quả tổng thể của công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục.

3.1. Tối ưu hóa tổ chức bộ máy quản lý chi thường xuyên NSNN

Cần rà soát, kiện toàn lại bộ máy quản lý tài chính trong ngành giáo dục huyện Ia H'Drai. Cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan để đảm bảo sự đồng bộ từ khâu lập dự toán đến quyết toán. Đặc biệt, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính kế toán thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý tài chính công, các chính sách, chế độ mới. Việc bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất vào các vị trí then chốt là yếu tố quyết định sự thành công của công tác quản lý ngân sách.

3.2. Nâng cao chất lượng và tính thực tiễn trong lập dự toán

Để nâng cao chất lượng lập dự toán, các đơn vị trường học phải thực hiện quy trình một cách nghiêm túc. Dự toán phải được xây dựng chi tiết, có thuyết minh rõ ràng cho từng khoản chi, dựa trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện của năm trước và dự báo nhu cầu của năm kế hoạch. Cơ quan tài chính và giáo dục cần ban hành văn bản hướng dẫn lập dự toán sớm, cụ thể, đồng thời tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra tính hợp lý của dự toán do các đơn vị gửi lên. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình lập dự toán và quản lý ngân sách cũng là một giải pháp cần được đẩy mạnh để tăng tính chính xác và minh bạch.

IV. Phương pháp tăng cường chấp hành và quyết toán chi ngân sách

Sau khi có dự toán chất lượng, việc tăng cường kỷ luật trong chấp hành dự toán và hoàn thiện công tác quyết toán ngân sách là bước đi tất yếu để đảm bảo hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN. Giai đoạn chấp hành dự toán đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chi tiêu. Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp giáo dục phải chịu trách nhiệm cao nhất trong việc điều hành chi theo dự toán đã được duyệt, đảm bảo chi đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu. Mọi khoản chi phải được kiểm soát chặt chẽ bởi Kho bạc Nhà nước trước khi thanh toán. Cần thực hiện triệt để nguyên tắc "lường thu mà chi", điều hành ngân sách một cách linh hoạt nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật. Đối với công tác quyết toán ngân sách, cần nâng cao tính kịp thời và trung thực. Các đơn vị phải lập và gửi báo cáo quyết toán đúng hạn, số liệu phải được đối chiếu, xác nhận đầy đủ với cơ quan tài chính và KBNN. Cơ quan tài chính cần tăng cường công tác thẩm định báo cáo quyết toán, kiên quyết xuất toán những khoản chi sai quy định. Việc thực hiện tốt hai khâu này không chỉ giúp quản lý chặt chẽ nguồn NSNN, chống lãng phí, thất thoát mà còn cung cấp thông tin chính xác, làm cơ sở cho việc xây dựng dự toán cho các năm tiếp theo.

4.1. Bí quyết siết chặt kỷ luật trong chấp hành dự toán chi tiêu

Để siết chặt kỷ luật chấp hành dự toán, cần công khai hóa dự toán được giao tại các đơn vị để cán bộ, giáo viên cùng tham gia giám sát. Quy chế chi tiêu nội bộ phải được xây dựng dân chủ, cụ thể và phù hợp với quy định của nhà nước cũng như thực tế của đơn vị. Kho bạc Nhà nước huyện Ia H'Drai cần phát huy vai trò kiểm soát chi, từ chối thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện, sai chế độ. Đồng thời, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị với kết quả thực hiện dự toán ngân sách, coi đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại thi đua hàng năm.

4.2. Hoàn thiện công tác quyết toán NSNN đảm bảo tính minh bạch

Quy trình quyết toán NSNN cần được chuẩn hóa và thực hiện nghiêm túc. Các đơn vị phải hoàn thành việc khóa sổ kế toán, đối chiếu số liệu và lập báo cáo tài chính theo đúng biểu mẫu và thời gian quy định. Cơ quan chủ quản (Phòng GD&ĐT) và cơ quan tài chính phải tổ chức xét duyệt, thẩm định quyết toán một cách kỹ lưỡng, đảm bảo số liệu chính xác, phản ánh trung thực tình hình sử dụng kinh phí. Kết quả xét duyệt quyết toán và tình hình tài chính của đơn vị cần được công khai theo quy định của pháp luật để tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động quản lý chi thường xuyên.

V. Cách tăng cường thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm chi NSNN

Giải pháp cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, và xử lý vi phạm trong quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục. Hoạt động này có vai trò then chốt trong việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các hành vi sai phạm, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật tài chính. Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm một cách cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực, đơn vị có nguy cơ rủi ro cao. Nội dung thanh tra không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ mà cần đi sâu vào phân tích, đánh giá tính kinh tế và hiệu quả của các khoản chi. Việc đổi mới phương pháp thanh tra, kết hợp giữa kiểm tra định kỳ và đột xuất, sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Đặc biệt, kết quả thanh tra phải được công khai và các hành vi vi phạm phải được xử lý vi phạm một cách nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm. Việc xử lý nghiêm các sai phạm không chỉ thu hồi tài sản cho Nhà nước mà còn có tác dụng răn đe, giáo dục, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường quản lý tài chính tại huyện Ia H'Drai. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra nhà nước, kiểm toán, và các cơ quan quản lý chuyên ngành là yếu tố đảm bảo cho hoạt động này đạt hiệu quả cao nhất.

5.1. Xây dựng cơ chế thanh tra kiểm tra thường xuyên và hiệu quả

Cần thiết lập một cơ chế thanh tra, kiểm tra đa tầng, bao gồm tự kiểm tra tại đơn vị, kiểm tra của cơ quan chủ quản và thanh tra của cơ quan tài chính, thanh tra nhà nước. Phòng TC-KH huyện cần chủ trì, phối hợp với Phòng GD&ĐT xây dựng kế hoạch kiểm tra tài chính định kỳ tại 100% các đơn vị trường học. Nội dung kiểm tra cần toàn diện, từ khâu lập dự toán đến chấp hành dự toánquyết toán ngân sách. Kết luận kiểm tra phải chỉ rõ những sai phạm, xác định trách nhiệm của cá nhân, tập thể liên quan và đưa ra kiến nghị khắc phục cụ thể.

5.2. Áp dụng chế tài xử lý vi phạm nghiêm minh trong quản lý chi

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN phải được xử lý vi phạm một cách nghiêm khắc và công bằng. Tùy theo mức độ vi phạm, có thể áp dụng các hình thức xử lý như xử lý hành chính, kỷ luật, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần thực hiện nghiêm túc việc thu hồi các khoản chi sai chế độ về cho ngân sách. Việc công khai kết quả xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng không chỉ thể hiện sự quyết tâm của chính quyền địa phương mà còn có tác dụng phòng ngừa chung, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong toàn ngành giáo dục huyện Ia H'Drai.

VI. Bài học kinh nghiệm cho quản lý chi ngân sách giáo dục Ia H Drai

Việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục từ các địa phương có điều kiện tương đồng là vô cùng quý báu. Luận văn đã phân tích mô hình của huyện Đăk Hà (Kon Tum) và huyện Đăk R’Lấp (Đắk Nông), từ đó rút ra những bài học thực tiễn giá trị cho huyện Ia H'Drai. Bài học lớn nhất là tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống định mức phân bổ ngân sách khoa học, công bằng, có ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa. Việc mạnh dạn thực hiện phân cấp quản lý và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị trường học, như kinh nghiệm từ Đăk R’Lấp, đã chứng tỏ hiệu quả trong việc phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu. Bên cạnh đó, việc coi trọng công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải tiến quy trình, thủ tục và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài chính, là yếu tố then chốt để đảm bảo tính công khai, minh bạch. Tuy nhiên, việc áp dụng kinh nghiệm từ nơi khác cần có sự chọn lọc, linh hoạt, tránh máy móc, phải dựa trên điều kiện thực tế về kinh tế - xã hội của huyện Ia H'Drai. Hướng đi tương lai đòi hỏi sự quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực của toàn ngành giáo dục và sự đồng thuận của xã hội để công tác quản lý ngân sách thực sự trở thành công cụ đắc lực thúc đẩy giáo dục huyện nhà phát triển bền vững.

6.1. Kinh nghiệm từ huyện Đăk Hà và Đăk R Lấp trong phân bổ NSNN

Huyện Đăk Hà thành công trong việc xây dựng các tiêu chí phân bổ ngân sách rõ ràng, có ưu tiên cho vùng khó khăn. Huyện Đăk R’Lấp lại nổi bật với việc thực hiện khoán biên chế và chi hành chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, giúp các trường chủ động khai thác nguồn thu và quản lý chi tiêu hiệu quả. Bài học chung cho huyện Ia H'Drai là cần xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách vừa đảm bảo công bằng, vừa tạo động lực, đồng thời phải trao quyền tự chủ một cách thực chất, đi đôi với tăng cường giám sát để đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả nhất.

6.2. Hướng đi tương lai cho quản lý tài chính công tại Ia H Drai

Trong tương lai, huyện Ia H'Drai cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính cho phù hợp với tình hình mới. Trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ số. Cần tăng cường vai trò giám sát của HĐND và các tổ chức xã hội đối với toàn bộ chu trình ngân sách. Việc thực hiện tốt các giải pháp đã đề ra không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục mà còn góp phần xây dựng một nền tài chính công lành mạnh, bền vững, phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục của huyện ia hdrai tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, Đề tài được chia làm 03 chương: Chương Ì: Cơ sở lý luận về quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo due “Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của huyện la H' Drai. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ thường xuyên `NSNN cho sự nghiệp giáo dục của huyện la H'Drai 12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE CONG TAC QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 1. KHÁI QUÁT VÊ QUÁN LÝ CHÍ THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC. Một số khái niệm & Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là thuật ngữ.

được sử dụng rộng rãi ở mọi quốc gia trên thể giới. Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đưa ra khái niệm về NSNN. Cu thể 'NSNN là một bản dự toán thu và chỉ do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện. NSNN bao gồm những nguồn thu vả những khoản chỉ cụ thể và được định lượng.

NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và phân phối các nguồn tải chính. 'NSNN là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước, đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 'NSNN là bản dự toán thu - chỉ tài chính tổng hợp của Nha nude, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lap, phan pl sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng. của nhà nước trên cơ sở luật định.

NSNN có những đặc điểm như sau: NSNN luôn gắn liền giữa quyển lực nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được tiến hành trên cơ sở hệ thống luật lệ nhất định; NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và chứa đựng những lợi ích công; Hoạt động NSNN là hoạt đông phân phối lại các nguồn tài chính thông qua thu va chi NSNN. Khdi nigm chi thường xuyên ngân sách nhà nước “Chỉ thường xuyên NSNN là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tai chính đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chỉ giúp. bộ máy nhà nước vận hành và thực hiện nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo chỉ cho các hoạt động sự nghiệp nhằm cung ứng các hàng hoá công cộng. gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội” Chỉ thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chỉ gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng.

Chỉ thường xuyên NSNN có những đặc điểm như sau: Chỉ thường xuyên NSNN gắn với quyền lực nhà nước, mang tích cl ất pháp lý cao; Các khoản chỉ thường xuyên NSNN mang tính ổn định và có tính chất không hoàn trả trực tiếp; Phạm vi, mức đô chỉ thường xuyên. 'NSNN gắn với cơ cấu, tổ chức và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công; Xét theo cơ cấu chỉ ở từng niên độ và mục đích cuối. cùng của vốn cấp phát thì chỉ thường xuyên NSNN cho các hoạt động sự nghiệp có tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Đại bộ phận của chỉ thường xuyên NSNN được xếp vào dạng chỉ tiêu.

dùng vì các khoản chỉ thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu. về quản lý, các hoạt động này hầu như không tạo ra của cải vật chất e Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước cho su nghiệp giáo due Chỉ NSNN cho sự nại giáo dục là khoản chỉ thu nhóm chỉ hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính hành chính sự nghiệp, là việc sử dụng nguồn vốn NSNN để thực hiện các hoạt động mang tính chất tích lũy đặc biệt vì khoản chỉ này đầu tư đải hạn cho tương lai trong việc tăng trưởng kinh tế Do dé chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là việc cấp vốn đầu tư cho việc đảo tạo nguồn nhân lực cho tương lai của đất nước. 4 'Chỉ thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN dé đáp ứng nhu cầu chỉ thường xuyên của cơ quan quản lý nhằm đảm bao cho các cơ quan đơn vị quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Chỉ NSNN đối với sự nghiệp giáo dục thường bao gi các khoản chỉ sau: Các khoản chỉ cho con người; Chỉ về quản lý hành chính; Chỉ cho hoạt động chuyên môn; Chỉ mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản Các hoạt động của chỉ thường xuyên NSNN diễn ra trên phạm vi rong, .đa dạng và phức tạp; nhu cầu chỉ thường xuyên NSNN luôn tăng trong khỉ khả năng huy động nguồn thu có hạn.

4L Khái niệm quan lý chỉ thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo due Quản lý chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục lä một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định. của cá nhân, tổ chức có thấm quyền đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của các cơ sở. 'GD&ĐT trong việc triển khai chức năng, nhiệm vụ được giao. Quản lý chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền đổi với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của các cơ sở 'GD&ĐT trong việc triển khai chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đối tượng quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là toàn bộ các khoản chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục mà trong đó chủ thể quản lý là thủ trưởng các cơ quan đơn vị được giao sử dụng ngân sách Công cụ và phương pháp quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cắp huyện: công cụ quan lý gồm các chế độ, 1S chính sách, các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nha nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chỉ NSNN. Sự tác động của chủ thể quản lý lên ối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản. ý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đó là sử dụng chỉ thường. xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục một cách hợp lý, tiết kiệm.

Nguyên tắc quản lý chỉ thường xuyên NSNN «. Nguyên tẮc quản lý theo dự toán Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN. “Những khoản chỉ thường xuyên khi đã được ghỉ vào dự toán chỉ và đã được cơ quan có thấm quyền xét duyệt được coi như là chỉ iêu pháp lệnh. Khi đó, số chỉ thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính công với các đơn vị thụ hưởng NSNN.

Quản lý chỉ thường xuyên NSNN phải theo nguyên tắc quán lý theo dự toán” Pham vi chi của NSNN rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chỉ cho mỗi loại hoạt động. được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng; hoặc giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện vẻ trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau. dẫn đến các mức chỉ từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau.

Hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chỉ của NSNN phụ thuộc vào quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của. các cơ quan nhà nước đó. Do vậy, mọi khoản chỉ từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi khoản chỉ đó đã nằm trong cơ cấu chỉ theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua. Quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN; tạo điều kiện thuận lợi 16 cho việc điều hành NSNN; hạn chế được tính tuỷ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng NSNN.

Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả. Trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực có hạn cần tính toán để đạt hiệu quả cao nhất với chỉ phí ít nhất. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quá trình quản lý chỉ thường xuyên NSNN chỉ thực hiện được khi: i) Thiết lập được các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị, hay yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chỉ một cách phù hợp.(ii) Xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chỉ tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc. (iii) Lựa chọn được.

thứ tự ưu tiên cho các hoạt động sao cho với số chỉ thường xuyên có hạn nhưng công việc hoản thành tốt, chất lượng cao. (iv) Khi đánh giá tính hiệu quả của chỉ thường xuyên NSNN phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chỉ thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác. và phải tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó. Nguyên tắc chỉ trực tiếp qua kho bạc nhà nước.

Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chỉ NSNN, đặc biệt là các khoản chỉ thường xuyên. Để tăng cường vai trở của KBNN trong kiểm soát chỉ thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai thực hiện chỉ trực tiếp qua KBNN. và coi đó như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chỉ này.

Chỉ trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chỉ trả có sự tham gia của 3 bên: Đơn vị sử dụng NSNN; KBNN; tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiễn do đơn vị sử dụng NSNN thanh toán chỉ trả (gọi chung là người được hưởng) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ