Luận văn thạc sĩ: Quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Đông Giang, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ về quản lý kinh tế và chi thường xuyên ngân sách huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện là một trụ cột của hệ thống tài chính công, đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Luận văn của tác giả Đỗ Thị Trà My (2020) đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về quản lý ngân sách, làm rõ các khái niệm, nguyên tắc và nội dung cốt lõi. Chi thường xuyên, theo định nghĩa trong Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, là nhiệm vụ chi nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh. Công tác quản lý các khoản chi này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản: quản lý theo dự toán, tiết kiệm, hiệu quả và chi trả trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước. Việc xây dựng một nền tảng lý luận vững chắc là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chi ngân sách tại một địa bàn cụ thể như huyện Đông Giang. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng, hiệu quả của chi thường xuyên không chỉ được đo lường bằng con số tài chính mà còn thể hiện qua sự ổn định chính trị, mức độ hài lòng của người dân và sự phát triển bền vững của địa phương.

1.1. Khái niệm vai trò và nguyên tắc quản lý chi ngân sách

Quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp huyện là quá trình các cơ quan nhà nước sử dụng công cụ và phương pháp để điều khiển hoạt động chi tiêu, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra. Theo luận văn, các khoản chi này có đặc điểm mang tính ổn định, gắn liền với việc duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước và không trực tiếp làm tăng tài sản hữu hình quốc gia. Vai trò của nó là đảm bảo nguồn lực tài chính cho các cơ quan công quyền, điều tiết thu nhập dân cư, thực hiện công bằng xã hội và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Việc quản lý phải tuân thủ ba nguyên tắc vàng. Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán, mọi khoản chi phải nằm trong dự toán đã được Hội đồng nhân dân phê duyệt. Thứ hai, nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả đòi hỏi phải đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Thứ ba, nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước nhằm tăng cường kiểm soát chi ngân sách địa phương và minh bạch hóa dòng tiền.

1.2. Nội dung chính trong chu trình quản lý chi thường xuyên

Chu trình quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện bao gồm bốn giai đoạn chính, liên kết chặt chẽ với nhau. Giai đoạn đầu tiên là lập dự toán và quyết toán ngân sách, nơi các đơn vị xây dựng kế hoạch chi tiêu dựa trên nhiệm vụ, định mức và hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên. Giai đoạn thứ hai là chấp hành dự toán, quá trình biến các chỉ tiêu trên giấy thành hiện thực thông qua việc cấp phát và sử dụng kinh phí. Giai đoạn thứ ba là quyết toán ngân sách, khâu cuối cùng để tổng kết, xác nhận số liệu thực chi trong năm. Giai đoạn cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là thanh tra và xử lý vi phạm. Hoạt động này giúp phòng ngừa, phát hiện và khắc phục các sai sót, đảm bảo Luật Ngân sách Nhà nước được thực thi nghiêm minh. Mỗi giai đoạn đều có quy trình, tiêu chí đánh giá và sự tham gia của các cơ quan chức năng khác nhau như Phòng Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước, Hội đồng nhân dân, tạo thành một cơ chế giám sát và quản lý toàn diện.

II. Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách huyện Đông Giang

Luận văn đã đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá thực trạng chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2014-2018. Là một huyện miền núi với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, công tác quản lý tài chính công tại đây đối mặt với không ít thách thức. Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực như đảm bảo nguồn chi cho các hoạt động thiết yếu, góp phần ổn định an ninh - quốc phòng và thúc đẩy phát triển kinh tế, việc quản lý vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Giai đoạn 2014-2018, tổng chi ngân sách địa phương của huyện tăng từ 349,51 tỷ đồng lên 649,68 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên tăng từ 175,02 tỷ đồng lên 289,13 tỷ đồng. Sự gia tăng này đặt ra áp lực lớn lên hệ thống quản lý, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng, công tác lập dự toán đôi khi chưa sát thực tế, việc chấp hành còn phát sinh bổ sung ngoài dự toán, và công tác quyết toán còn chậm trễ. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan như đặc thù địa bàn, lẫn nguyên nhân chủ quan như năng lực cán bộ và cơ chế phối hợp.

2.1. Đánh giá công tác lập và chấp hành dự toán chi tại Đông Giang

Trong giai đoạn 2014-2018, công tác lập dự toán chi thường xuyên tại huyện Đông Giang về cơ bản đã tuân thủ quy trình. Tuy nhiên, chất lượng dự toán chưa cao, một số đơn vị lập dự toán còn mang tính hình thức, chưa dựa trên nhu cầu thực tế và định mức quy định, dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần trong năm. Bảng 2.11 của luận văn cho thấy, tình hình bổ sung ngoài dự toán chi thường xuyên diễn ra hàng năm, gây khó khăn cho việc điều hành ngân sách. Về công tác chấp hành, Kho bạc Nhà nước huyện đã thực hiện tốt vai trò kiểm soát chi ngân sách địa phương. Giai đoạn 2014-2018, Kho bạc đã từ chối thanh toán nhiều khoản chi không đủ điều kiện (Bảng 2.12), cho thấy sự chặt chẽ trong khâu kiểm soát. Dù vậy, vẫn còn tình trạng một số đơn vị sử dụng ngân sách chưa đúng mục đích, lãng phí, hiệu quả chưa cao. Cơ cấu chi ngân sách huyện Đông Giang chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, y tế và quản lý hành chính, phù hợp với đặc thù của một huyện miền núi.

2.2. Hạn chế trong quyết toán và thanh tra chi thường xuyên

Công tác quyết toán và thanh tra là hai khâu quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và kỷ luật tài chính, tuy nhiên tại Đông Giang vẫn còn những tồn tại. Về quyết toán, Bảng 2.13 cho thấy vẫn còn một tỷ lệ đơn vị nộp báo cáo quyết toán chậm so với quy định. Số liệu quyết toán đôi khi chưa khớp đúng với số liệu của Kho bạc, đòi hỏi phải điều chỉnh nhiều lần. Việc xét duyệt quyết toán còn chưa thực sự đi vào chiều sâu để phân tích, đánh giá hiệu quả quản lý chi thường xuyên. Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, mặc dù đã được thực hiện định kỳ và đột xuất, nhưng kết quả thu hồi cho ngân sách nhà nước còn hạn chế (Bảng 2.16). Số cuộc thanh tra chưa nhiều, nội dung chưa bao quát hết các lĩnh vực chi tiêu, dẫn đến việc phát hiện và xử lý vi phạm chưa triệt để. Những hạn chế này là thách thức lớn đối với mục tiêu quản lý tài chính công tại huyện miền núi một cách hiệu quả và bền vững.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách huyện

Từ việc phân tích sâu sắc thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả chi ngân sách một cách đồng bộ và khả thi, hướng tới mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên tại huyện Đông Giang đến năm 2025. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc khắc phục những hạn chế đã được chỉ ra mà còn hướng đến việc đổi mới tư duy quản lý, tăng cường kỷ luật tài chính và phát huy tính chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách. Trọng tâm của các giải pháp là hoàn thiện toàn diện chu trình ngân sách, từ khâu lập dự toán cho đến khâu thanh tra, kiểm tra. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và đặc biệt là nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo nguồn lực công được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn huyện, một trong những kinh nghiệm quản lý ngân sách quan trọng cho các địa phương có điều kiện tương tự.

3.1. Hoàn thiện công tác lập và chấp hành dự toán ngân sách

Để nâng cao chất lượng dự toán, giải pháp cốt lõi là phải xây dựng dự toán dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực hiện của các năm trước và dự báo sát với thực tế. Cần tăng cường vai trò hướng dẫn, thẩm định của Phòng Tài chính - Kế hoạch, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc lập dự toán. Việc giao dự toán cần công khai, minh bạch và ổn định để các đơn vị chủ động trong thực hiện. Trong khâu chấp hành, cần siết chặt kỷ luật tài chính, hạn chế tối đa việc điều chỉnh, bổ sung dự toán trong năm. Kho bạc Nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò kiểm soát chi, kiên quyết từ chối các khoản chi sai chế độ. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách để hiện đại hóa quy trình, tăng cường kết nối dữ liệu giữa các cơ quan, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên.

3.2. Tăng cường công tác quyết toán và thanh tra kiểm tra

Đối với công tác quyết toán, cần thực hiện nghiêm túc thời hạn nộp và xét duyệt báo cáo. Nội dung thẩm định quyết toán phải đi sâu vào việc phân tích hiệu quả sử dụng kinh phí, chỉ ra những tồn tại và kiến nghị các biện pháp khắc phục. Cần nâng cao chất lượng báo cáo quyết toán, đảm bảo số liệu chính xác, trung thực và khớp đúng. Về thanh tra, cần xây dựng kế hoạch thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực, đơn vị có rủi ro cao. Tăng cường các cuộc thanh tra đột xuất để kịp thời ngăn chặn sai phạm. Kết luận thanh tra phải rõ ràng, kiến nghị xử lý phải quyết liệt và theo dõi chặt chẽ việc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra. Việc kết hợp hài hòa giữa giám sát của HĐND, kiểm tra của cơ quan tài chính và thanh tra chuyên ngành sẽ tạo ra một cơ chế giám sát toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu tự chủ ngân sách huyện trong tương lai.

IV. Hướng đi tương lai cho quản lý tài chính công Đông Giang

Việc hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên không phải là mục tiêu cuối cùng, mà là nền tảng cho một tầm nhìn xa hơn về quản lý tài chính công tại huyện miền núi Đông Giang. Định hướng đến năm 2025 được luận văn vạch ra là xây dựng một nền tài chính công vững mạnh, minh bạch và hiệu quả, từng bước tăng cường tự chủ ngân sách huyện và giảm phụ thuộc vào nguồn bổ sung từ cấp trên. Để thực hiện được tầm nhìn này, cần có sự đột phá trong cả tư duy và hành động. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc vá các lỗ hổng trong quy trình hiện tại mà cần hướng tới việc cải cách cơ cấu chi, gắn chi tiêu với kết quả đầu ra và nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị. Việc áp dụng các kinh nghiệm quản lý ngân sách thành công từ các địa phương khác, kết hợp với việc xây dựng các chính sách tài khóa địa phương phù hợp với đặc thù của huyện, sẽ là chìa khóa để mở ra một giai đoạn phát triển mới, bền vững hơn cho Đông Giang. Sự thành công của mô hình quản lý tại đây sẽ là bài học quý báu cho các huyện miền núi khác trên cả nước.

4.1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và hiện đại hóa quản lý

Yếu tố con người luôn là then chốt. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cán bộ tài chính - kế toán "vừa hồng, vừa chuyên". Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức về Luật Ngân sách Nhà nước và các chế độ, chính sách mới. Cần nâng cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh của cán bộ để chống lại các biểu hiện tiêu cực, lãng phí. Song song đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu. Cần đầu tư nâng cấp hạ tầng, triển khai các phần mềm quản lý ngân sách thống nhất, hiện đại từ cấp huyện đến cấp xã và các đơn vị dự toán. Việc này không chỉ giúp tự động hóa các quy trình, giảm thiểu sai sót mà còn tạo ra một cơ sở dữ liệu lớn, phục vụ hiệu quả cho công tác phân tích, dự báo và ra quyết định.

4.2. Tăng cường minh bạch và sự tham gia của cộng đồng

Minh bạch hóa ngân sách là một trong những giải pháp quan trọng nhất để chống tham nhũng, lãng phí và nâng cao hiệu quả chi tiêu. Cần thực hiện nghiêm túc quy chế công khai ngân sách ở tất cả các khâu của chu trình, từ dự toán, phân bổ, đến quyết toán. Thông tin cần được công bố một cách dễ hiểu, dễ tiếp cận trên các cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể. Quan trọng hơn, cần tạo cơ chế để người dân có thể tham gia vào quá trình lập kế hoạch và giám sát việc chi tiêu ngân sách tại địa phương. Sự tham gia của cộng đồng không chỉ giúp tăng cường trách nhiệm giải trình mà còn đảm bảo các khoản chi của nhà nước thực sự đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện đông giang tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHA NUOC CAP HUYEN 1. TONG QUAN VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. Khái quát về chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện a. Đơn vị hành chính cấp huyện Đơn vị hành chính cấp huyện có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp.

hành chính nó trực thuộc gồm “huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phó thuộc thành phó trực thuộc trung ương”” đây là cấp hành chính cấp 2 của Việt Nam, thấp hơn cấp tỉnh và cao hơn cấp xã, phường, thị trấn về thấm quyền. Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất din! Quá trình chỉ NSNN bao gồm quá trình phân phối và quá trình sử dụng: - Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. - Quá trình sử dụng: là trực tiếp chỉ dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN. mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.

Theo Điều 5, Luật NSNN năm 2015 quy định: Các khoản chỉ NSNN bao ¡ đầu tư phát triển, chỉ dự trữ quốc gia, chỉ thường xuyên, chỉ trả nợ 2, Quốc hội (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Hà Nội ?hups//i.org/sik/Ng%C3%A2n s%C3%Alch nh%C3%A0 n%C6%B0%EI%BBS9Bc#Chi n #%C3%A2n_s%C3%.Alch nhữC3%A0 n%C6%B0%E1%BB%9Bc lãi. chỉ viện trợ và các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật [15]. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện a. Khái niệm quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Chỉ thường xuyên là nhiệm vụ chỉ của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tô chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh [16].

Khái niệm về Quản lý chỉ thường xuyên ngân sách cấp huyện hiện tại hiểm thấy tài liệu nào đưa ra khái niệm trực tiếp, tuy nhiên khái niệm về Quản lý tài chính công thì phổ én hon. Theo Dương Đăng Chỉnh và tác giả khác (2009), Quản lý tài chính công là hoạt động của các chủ thể quản lý tài chính công thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý đẻ tác động và điều khiển hoạt động của tài chính công nhằm đạt được mục tiêu đã định [2]. Từ khái niệm Chi thường xuyên và Quản lý tài chính công, có thể rút ra khái niệm Quản lý chỉ thường xuyên ngân sách cấp huyện như sau: Quản lý chỉ thường xuyên ngân sách cấp huyện là quá trình Nhà nước sử dụng các phương pháp, các công cụ thích hợp nhằm hướng dẫn, điều khiển các hoạt động NSNN cấp huyện thường xuyên trên địa bàn phát triển phù hợp với các quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã dự định. Đặc điểm quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Thứ nhắt, các khoản chỉ thường xuyên NSNN mang tính ổn định bởi vì nguồn lực tài chính đối với các khoản chỉ thường xuyên được phân bỗổ tương đối u giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các năm trong kỳ kế hoạch.

Đồng thời, các hoạt động này được duy trì thường xuyên, liên tục nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý hành chính, 10 đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng thiết yếu cho xã hội [6]. Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng. Cũng như các khoản chỉ khác của NSNN thì việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Thứ hai, các khoản chỉ thường xuyên NSNN mang tính chất tiêu dùng xã hội, mục đích duy trì bộ máy quản lý Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra.

Chỉ thường xuyên chủ yếu là chỉ cho con người, sự việc vì vậy nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của Qu gia [6]. Hiệu quả của chỉ thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chỉ cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ôn định chính trị - xã hội từ đó thúc đây sự phát triển bền vững của đất nước. Thứ ba, phạm vì mức độ chỉ thường xuyên NSNN gắn chặt với cơ cấu tô chức và hiệu quả hoạt động của BMNN.

Cơ cấu tô chức của BMNN tác động đến phạm vi và mức chỉ TX của NSNN đối với các cơ quan này. gọn nhẹ sẽ là điều kiện tỉ ho việc thu hẹp phạm vi chỉ thường xuyên của NSNN; ngược lại khi BMNN công kểnh sẽ làm tăng chỉ về phạm vi lẫn mức chỉ cho các cơ quan này [6]. Với những đặc điểm trên cho thấy vai trò chỉ thường xuyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống KT-XH của một quốc gia. Vai trò của quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Quản lý chỉ thường xuyên NSNN cắp huyện có vai trò như sau [6]: ~ Đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước; là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước; Đảm bảo mục tiêu ôn định chính trị, phát triển KT-XH trên địa bàn, góp phần tạo động lực cho sự phát triển KT-XH.

Quản lý có hiệu quả các ll khoản chỉ của NSNN sẽ có sự tác động tích cực đến đời sống KT-XH, đảm bảo mục tiêu phát triển đã đề ra. - Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chỉ TX NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn NS, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả. Quản lý các khoản chỉ thường xuyên NSNN sẽ tránh được tình trạng chỉ dàn trải, chưa thực sự cấp thiết và đặc biệt là tình trạng thất thoát nguồn vốn NSNN. - Quan ly chi TX NS gitip điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng.

Qua công tác quản lý đề xuất chỉ NS để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo từ đó công bằng xã hội được cải thiện. - Quan lý chỉ thường xuyên ngân sách có vai trò điều tiết giá cả, chống. suy thoái, chống lạm phát và duy trì sự ồn định của môi trường kinh tế. Mục tiêu, nguyên tắc quản lý chỉ thường xuyên NSNN huyện a.

Mục tiêu của quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện - Củng định vấn đề chính trị; tăng cường phát triền KT-XH trên địa bản huyện. - Tăng hiệu quả sử dụng vốn NS, đảm bảo cho việc lập dự toán chỉ TX NSNN huyện được thực hiện đúng quy định hiện hành, căn cứ trên điều kiện và nguồn kinh phí thực tế, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, tránh chồng chéo, lãng phí, đúng thời gian quy định, có thể thuyết minh, giải trình được về cơ sở pháp lý và chỉ tiết tính toán; đảm bảo tính tài khóa; công bằng trong sử dụng NSNN. Nguyên tắc của quản lý chỉ thường xuyên NSNN cấp huyện Quản lý chỉ TX NSNN bao gồm các nguyên tắc sau: quản lý theo dự toán; tiết kiệm, hiệu quả: chỉ trực tiếp qua KBNN. - Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Thông thường, chu trình NSNN được bắt đầu bằng khâu dự toán.

Các khoản chỉ TX khi đã được ghi vào dự toán chỉ và cơ quan quyền lực Nhà nước đã xét duyệt thì được xem như là chỉ tiêu 12 pháp lệnh để căn cứ thực hiện. Xét trén géc d6 quan ly, s6.chi TX da duge ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN [6]. Từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chỉ thường xuyên theo dự toán, cụ thể như sau: Thứ nhất, co cau thu, chỉ của NSNN luôn phụ thuộc vào quyết định và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì vậy, mọi khoản chỉ từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi khoản chỉ đó đã nằm trong cơ cấu chỉ theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua.

Thứ hai, chỉ NSNN có phạm vì rất đa dạng do liên quan tới nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Hoạt động giữa các cơ. quan trong cùng một lĩnh vực nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến việc phân bổ mức chỉ từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau. Mite chỉ cho mỗi loại hoạt động được xác định theo đối tượng và định mức riêng để phù hợp với nhu cầu thực tế của từng đơn vị.

Thứ ba, quản lý theo dự toán đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN; tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành NSNN; hạn chế được tính tùy tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng NSNN. ~ Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Để giảm bớt một phần gánh nặng chỉ tiêu NSNN, nhà nước đã thực hiện cắt bỏ một vài khoản chỉ tiêu, tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì điều đó không đồng nghĩa với việc gánh nặng chỉ tiêu của NSNN sẽ được giảm bớt hoàn toàn bởi vì nguồn thu NSNN còn hạn hẹp trong khi nhu cầu chỉ tiêu rất lớn; vì vậy chỉ có tiết kiệm chỉ thì mới có thể đủnguồn tài chính trang trải, đáp ứng được các nhu cầu cấp bách. Mặc dù luôn bố trí một khoản dự phòng (2-5%/t6ng số dự toán chỉ NSNN), thế nhưng các thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch NS 13 không đủ tính chính xác cần thiết dẫn đến quá trình hoạch định chính sách, hình thành và thực hiện NSNN; số dự phòng trên cũng không thể bảo đảm cho quá trình điều hành NSNN [6]. 'Vì vậy, tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc cần chú trọng khi bắt đầu một chu trình NS, là nguyên tắc vô cùng quan trọng của quản lý 'TX NSNN.

Khả năng huy động vốn hạn chế trong khi nhu cầu chỉ TX NSNN luôn tăng, các hoạt động chỉ TX NSNN đa dạng, phức tạp và diễn ra trên phạm vi rộng. Cho nên, vấn đề đặt ra là luôn phải tính toán để đạt hiệu quả cao nhất với chỉ phí ít nhất trong quá trình phân bỗ và sử dụng nguồn lực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ