đặt vấn đề: chính sách tài khóa theo hướng mở rộng dẫn đến bội chỉ ở mức cao, làm suy yếu các lớp đệm tài khóa, rút ngắn kỳ hạn vay nợ và làm tăng gánh nặng trả nợ cho ngân sách. Đề giải quyết lề này, bài viết chỉ ra chỉ ngân sách cần: kiểm soát chặt chẽ chỉ tiêu, giảm dần bội chỉ. Cơ cấu lại các khoản chỉ ngân sách, cơ cấu lại nguồn vốn và vốn đầu tư, tăng tỷ lệ chỉ NSNN theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và hiệu quả quản lý kinh. Ưu tiên tăng chỉ NSNN cho các mục tiêu chiến lược, mục tiêu xã hội trọng điểm, cho.
xây dựng cơ sở hạ tầng, cho phát triển nguồn lực, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. những mặt hàng và lĩnh vực trọng điểm. Có chính sách đầu tư thích đáng và cơ chế tài chính phù hợp của các vùng kinh tế trọng điểm, làm động lực phát triển của cả nền kinh tế, từ đó tạo điều kiện đầu tư tốt hơn cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa và các địa phương nghèo, chậm phát triển. Chính sách chi NSNN cần tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn NSNN cho chỉ thường xuyên, chỉ ĐTPT đảm bảo hiệu quả, công bằng, tiết kiệm, hạn chế lăng phí và chống thất thoát.
Nâng cao hiệu quả chỉ ngân sách, từng bước thực hiện bố trí chỉ theo kết quả đầu ra, theo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công việc. Tiết kiệm chỉ thường xuyên trên cơ sở quản lý chặt chẽ biên chế, tĩnh gọn bộ máy, tăng định mức chỉ sự nghiệp kinh tế, chỉ duy tu, bảo dưỡng. + Mai Đình Lâm (2015), “7úc động của chỉ ngân sách đến tăng trưởng kinh tế địa phương: Nghiên cứu trường hợp các tỉnh thành phía Nam”, Tạp chí Ngân sách và tăng trưởng, số ngày 15/8/2015. Nghiên cứu đã chỉ ra: phần trợ cấp của Chính phủ, Trung ương cho chính quyền địa phương hiện còn chưa hiệu quả trong dài hạn; thu địa phương hiện chưa có hiệu quả và gây ảnh hưởng không tốt cho tăng trưởng kinh tế; vai trò của đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế địa phương, là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới phát triển kinh tế địa phương của các tỉnh thành phía Nam nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Những khuyến nghị được đề xuất là: định hướng lâu dài cần thực hiện mô các cấp ngân sách không lồng ghép, khi đó nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp ngân sách được quy định rõ ràng hơn, mỗi cắp ngân sách có thời gian và điều kiện để xem xét chỉ tiết, kỹ lưỡng ngân sách cấp mình; cần có sự đổi mới từ việc soạn lập theo kết quả đầu vào không chú trọng đến các kết quả đầu ra gắn với các mục tiêu chiến lược ưu tiên sang soạn lập ngân sách gắn với đầu ra; Đồng thời đổi mới theo hướng lập ngân sách địa phương theo. khuôn khỏ chỉ tiêu trung hạn. + Phạm Thái Hà (2016), “Chỉ Ngân sách Nhà nước và một số khuyến nghị chính sách ", Bài đăng trên Tạp chí Tài chính đã chỉ ra: thứ nhất, điều hành NSNN đảm bảo dự toán được giao cũng như bám sát thực ân đối với nguồn thu hiện tại để có thể đảm bảo mức bội chỉ ngân sách ở mức Quốc hội giao. Thứ hai, tiết kiệm chỉ thường xuyên thông qua tỉnh giản biên chế, nâng, cao hiệu lực và năng suất lao động của khu vực công.
Thứ ba, tiếp tục cấu trúc các khoản vay của Chính phủ theo hướng: kéo dài thời gian trả nợ (phát hành trái phiếu kỳ hạn đài); hoán đổi lãi suất cao thành lãi st át thấp (vay mới trả cũ với lãi suất thấp hơn). Quy mô nợ công không phải là vấn đề quá quan trọng, điều quan trọng với nợ công là chất lượng nợ công. Thứ tư, hoàn thiện các quy chế, quy trình trong hợp tác công tư như BOT, BT. nhằm kêu gọi nguồn lực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng thay thế việc chỉ đầu tư phát triển của Chính phủ.
Nhất quán thực hiện luật đầu tư công trong việc sử dụng vốn đầu tư từ NSNN cho đầu tư tại các bộ ban ngành và địa phương. Các công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích để tác giả nghiên cứu Luận văn Quản lý chỉ ngân sách nhà nước tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Tính đến năm 2019, Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về 10 quản lý chỉ NSNN tại huyện Kon Rẫy, tác giả hệ thống lý luận và thực tiễn về quản lý chỉ NSNN cấp huyện, phân tích thực trạng quản lý chỉ NSNN huyện Kon Rẫy hiện nay để tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ NSNN tại huyện Kon Rẫy trong thời gian tới. 11 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE QUAN LY CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1.
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁP HUYỆN 1. Một số khái niệm a. Ngân sách Nhà nước Có nhiều khái niệm về chi Ngân sách Nhà nước, luận văn này tiếp cận theo khái niệm được viết trong Luật NSNN năm 2015. Theo đó, “Ngân sách 'Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [26].
Hệ thống Ngân sách Nhà nước Theo Vũ Văn Hóa, Lê Văn Hưng (2009), Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp NS có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình thực hiện thu chỉ NSNN của mỗi cấp. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp là Luật NSNN, hệ thống NSNS Việt Nam được thiết lập dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau đây: Một là, nguyên tắc thống nhất và tập trung dân chủ Nước ta là một quốc gia thống nhất, quyền lực nhà nước là thống nhát, do đó chỉ có một NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán NS. Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý và điều hành NSNN [18] Bộ máy Nhà nước của ta được quản lý và điều hành dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Ngân sách là công cụ của Nhà nước, vì vậy hệ thống NSNN cũng được xây dựng theo nguyên tắc đó.
Ở các cấp chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân thảo luận NS cấp mình, nhưng phải được Ủy ban 12 nhân dân cấp trên và Chính phủ xét duyệt lại dé thống nhất và đưa vào NSNN trên cơ sở tuân thủ các quy định của Chính phủ về chế độ thu chỉ, các định mức, tiêu chuẩn chỉ tiêu, mục lục ngân sách và các quy định khác có liên quan đến NSNN [18]. Hai là, nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa cấp NŠ và cấp chính quyên Nhà nước Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu đảm bảo nguồn tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền Nhà nước. Vì vậy, phải xây dựng cho mỗi cấp chính quyền có ngân sách của cấp mình, có nguồn thu và các khoản chỉ, có quyền quyết định ngân sách của cấp mình trên cơ sở chấp hành pháp luật của Nhà nước. Cách lựa chọn này phát huy được quyền dân chủ, tính chủ động và tích cực trong việc khai thác nguồn thu, quản lý các khoản chỉ NSNN.
NS ĐẢNG, CTN, CPQH,VKSNDTC,TA NGÂN SÁCH NS BỘ, CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG NGANG BO 2 Zz <= NS CAC CO QUAN Zz TRUC THUC BO = ĐO 5a NGAN SACH CAP TINH Zz < SG NGAN SACH NGAN SACH CAP Z HUYỆN ĐỊA PHƯƠNG —L NGÂN SÁCH CÁP XÃ Hình 1.1: Hệ thắng Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam 13 Theo Luật NSNN (2002) Ngân sách Nhà nước gồm Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân [23] NSTU cung ứng nguồn tài chính cho các nhiệm vụ, mục tiêu chung của cả nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ chuyên giao nguồn tài chính cho Ngân sách tỉnh, thành phó trực thuộc Trung ương. NSPP là tên chung để chỉ ngân sách của cấp chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngân sách xã, phường, thị trấn là một cấp ngân sách vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách huyện và quận.
Ngân sách huyện, quận là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chỉ Ngân sách Nhà nước Theo Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan (2009) [8], “Chi Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ. Nội dung chi NSNN rất đa dạng, điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc phat triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước; chỉ trả nợ Nhà nước, chỉ viện trợ và các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật. Quan I chỉ Ngân sách Nhà nước “Quan lý chỉ NSNN là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thấm quyền sử dụng các phương pháp và công cụ chuyên ngành đẻ tác động đến quá trình chỉ NSNN nhằm đảm bảo các khoản chỉ NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách đã được Nhà nước quy định, phục vụ tốt nhất chức năng và nhiệm vụ Nhà nước trong từng thời kỳ” [16] 14 1.
Vai trò của quản lý chỉ NSNN NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính, bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nên kinh tế để thực hiện các mục tiêu chiến lược của quốc gia. Quản lý chỉ NSNN góp phần quan trọng để NSNN phát huy được vai trò chủ đạo đó và NSNN thực sự trở thành công cụ hữu hiệu hướng tới mục tiêu đã định. Thứ nhắt, Quản lý chỉ NSNN giúp cho ngân sách được sử dụng minh bạch, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống bộ máy hành chính trong sạch. Thực hiện mục đích sử dụng của NSNN là duy trì sự tồn tại, đảm bảo hoạt động, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Thứ hai, Quản lý chỉ NSNN giúp điều tiết vĩ mô nền kinh tế hiệu quả.