CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. CAC KHAI NIEM CO BAN PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Nhân lực Lịch sử nghiên cứu cho thấy đã có nhiều công trình trong và ngoài nước. nghiên cứu về nhân lực như: “Nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh.
tinh thần, cả ở mặt tài và mặt đức.” [2] “Nhân lực là sức lực trong mỗi con người, trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động.” [21] “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực” [21] Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực; nó. phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tuyên quyết của. mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội.
Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể và nó phụ thuộc vào sức vóc và tỉnh trạng sức khỏe của từng người, mức sống, y tế, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, Trí lực là chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,. của mỗi người. “Có thể kết luận, nhân lực là nguôn lực của mỗi con người mà nguồn lực nay bao gém thé lực, trí lực và nhân cách. Nguồn nhân lực 4.
Nguồn nhân lực nói chung nhân lực - hay còn được gọi là “nguồn lực con người” được hiểu. 10 ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng nhiều vào thập kỷ 60 của thế ky XX 6 nhiều nước phương Tây và ở một số nước châu Á khi khoa học “quản trị nguồn nhân lực " phát triển. Ở góc độ khác, nguồn nhân lực có nội hàm phong phú hơn, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ.
trí thức, học vấn, nghề nghiệp, .) tạo thành năng lực của con người (cá nhân. và công đồng) với tư cách chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực nói lên tiềm năng của con người cả về lượng (quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, phân bố dân cư,,.) và chất (tổng hợp những đặc trưng về thể lục, trí lục, tay nghề, phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức,. ) có thể huy động, khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Theo cách tiếp cận của UNO, nguồn nhân lực là tắt cả kiến thứ kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, nguồn nhân lực được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. Theo Begg, Fircher và Dombush`, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có trỉ thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huồng trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống Theo GS.TS, Phạm Minh Hạc: “nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số "fate git cin cuba shh “Economics” " và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham. gia phát triển KT-XH của một quốc gia hay một địa phương nào đó”. [25] Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân cư của một đắt nước với Ất cả các đặc điểm. At, tinh than, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất va lịch sử của dân Dựa vào những quan niệm trên ta thấy rằng, nguồn nhân lực trong một chức sẽ bao gồm các mặt cơ bản sau: (1) Về số lượng của nhân viên trong tổ chức: thể hiện quy mô của tỗ chức, số lượng nhân viên cảng đông, quy mô tổ chức cảng lớn và ngược lại lượng ít, quy mô tô chức nhỏ.
(2) Vé cơ cấu nhân viên trong tô chức: thể hiện tính đa dang cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị. Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực trong tổ chức. (3) Về chất lượng nhân viên trong tô chức: chất lượng nhân viên được. hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc sống.
Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: trí lực, thể lực và đạo đức. Tom lai, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng thể những tiểm năng của con người (trưới hễt và cơ bản nhất là tiểm năng lao động), gồm: thể lực, tri lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu câu của một tổ chức hoặc. một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định. Nguồn nhân lực công chức cắp phường (xã) Nguồn nhân lực công chức là công đân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cắp huyện; 12 trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
và trong bộ máy lãnh dao, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Cong sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung 18 đơn vi sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nướ ; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghỉ p công lập theo quy định của pháp luật. Nguồn nhân lực công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp. xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực.
& Phát triển Là quá trình biến đổi hoặc làm cho biển đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến. rộng, từ thấp đến cao và từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; là sự tiến bộ, sự đi lên dựa trên nền tảng có sẵn hoặc cải tiến từ hiện tại; là quá trình chuẩn 'bị và cung cắp những năng lực cẳi thiết cho tổ chức trong tương lai b. Phát triễin nguén nhân lực. Con nguisi muốn tổn tại và phát triển cần phải được thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về sản phẩm vật chất và tỉnh thần.
Muốn sản xuất con người phải có cơ sở nguồn lực vật chat, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ,. và hợp thành các nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồn lực con người là yếu tố cách mạng nhất và động nhất. Để có được những sản phẩm đó con người phải tiến hành sản xuất ra chúng. Chính bởi vậy, bản thân con người trở thành mục tiêu của sự phát triển.
Nhu cầu con người ngày. số lượng và nâng cao về cỉ để tạo ra. những sản phẩm phù hợp. Để thực hiện được việc đó, nguồn nhân lực phải được phát triển.
13 Nguồn lực con người như vậy không chỉ là đối tượng mà còn là động lực của sự phát triển. Cho đến nay, do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên. vẫn có nhiều cánh hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực: Theo UNESCO và một số nhà kinh tế sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ứng yêu cầu của việc làm. ‘Theo ILO cho ring, phai hiéu phat triéi nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả để đảo tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người dé tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
"Theo UN thì khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đảo tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đấy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. ‘Theo Christian Batal' thi phát triển nguồn nhân lực là phát triển về năng lực và đông cơ, năng lực (theo cách hiểu ngày nay) là một khái niệm mới, dẫn thay thế khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn”. Trong khi khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn” tương đối “tinh” va mang tính tập thể, thì khái niệm năng lực mang tính linh hoạt hơn, là một công cụ sắc bén, nó phù hợp hơn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong một thế giới việc làm luôn biến động. 'Năng lực, xét theo phạm trù thường dùng nhất, năng lực làm việc tương ứng với "kiến thức”, "kỹ năng”, và "hành vi thái độ” cẳn huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc.
Harbison” và Myer” thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực là quá trình. nâng cao kiễn thức, kỹ năng và năng lực của tắt cả mọi người trong xã hội Ong ite gi cia mit cuỗn sich rong lai tập mangtên “Quản lý nguồn nhân lực ong khu vụ công”. edcrick Haris Ieboera 1912- 1976) là một nhủ kinh lẻ bọc lao động người Mỹ và la Go sự Kính Lý L9 động gi Dạ bọc Prinecton Ông được biết đến ới nghiền cứu năm 950 ca ông "Quản lý rong thể g9(Charles công nghệp” Andrew v Myers các công (1913tình~ 2000) khác vlà mộtao động nhủ nhvà quản lạlý động Mộ và Giáo sự Kinh t Lao động ti “Viện Công nghệ Masaehusets, được bit đến từ nghiền cứu cứ ông về "Quân lý rung th giới công nghập 14 Đối với nước ta cũng có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: ‘Theo GS.