Luận văn thạc sĩ: Phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại TP Kon Tum

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích quản lý kinh tế phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại kon tum tỉnh kom tum, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
135
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò phát triển đội ngũ công chức cấp xã tại Kon Tum

Đội ngũ công chức cấp phường xã là lực lượng nòng cốt, cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tại cơ sở. Họ đóng vai trò quyết định trong việc thể chế hóa và đưa đường lối, chính sách vào thực tiễn đời sống, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Kon Tum. Luận văn thạc sĩ của Trần Lê Tuấn (2017) khẳng định: “Trong khu vực nhà nước, đội ngũ CB, CC có vai trò đặc biệt quan trọng bởi đó là những người nhân danh sử dụng quyền lực nhà nước” [24, tr.1]. Do đó, việc không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là nhiệm vụ cấp bách để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả. Tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, đội ngũ này là nhân tố then chốt thực hiện quản lý hành chính nhà nước, trực tiếp giải quyết các nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Chất lượng và năng lực của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cải cách hành chính cấp cơ sở, mức độ hài lòng của người dân và môi trường đầu tư tại địa phương. Nhận thức rõ tầm quan trọng này, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống nhằm phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại Kon Tum trở nên vô cùng cần thiết. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn.

1.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh là nền tảng cho sự ổn định và phát triển của bất kỳ địa phương nào. Công chức cấp phường xã là những người gần dân nhất, hiểu rõ nhất tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề phát sinh trong cộng đồng. Một đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt sẽ củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền. Họ không chỉ thực thi pháp luật mà còn là những người tuyên truyền, vận động, hòa giải và tổ chức cho nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Hiệu quả hoạt động của họ là thước đo trực tiếp cho năng lực quản lý của nhà nước ở cấp thấp nhất. Do đó, đầu tư vào việc phát triển đội ngũ này chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của địa phương, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

1.2. Mối liên hệ với quản lý nhà nước về kinh tế tại Kon Tum

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế, đội ngũ công chức cấp cơ sở có vai trò không thể thiếu. Họ là người trực tiếp triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, quản lý đất đai, xây dựng, môi trường và các hoạt động kinh doanh trên địa bàn. Năng lực thực thi công vụ của họ ảnh hưởng đến tốc độ giải quyết thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và thu hút đầu tư. Một đội ngũ công chức am hiểu chính sách, có kỹ năng chuyên môn tốt sẽ tham mưu hiệu quả cho lãnh đạo, giúp đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, thúc đẩy tiềm năng kinh tế của thành phố Kon Tum phát triển một cách bền vững và hiệu quả.

II. Phân tích thực trạng đội ngũ công chức cấp xã tại Kon Tum

Nghiên cứu của Trần Lê Tuấn (2017) đã chỉ ra một bức tranh toàn cảnh về thực trạng đội ngũ cán bộ công chức Kon Tum trong giai đoạn 2012-2016. Về mặt tích cực, số lượng và chất lượng đội ngũ công chức cấp phường xã ngày càng được quan tâm. Số lượng công chức có xu hướng tăng đều qua các năm, cơ cấu dần ổn định và khoa học hơn. Trình độ chuyên môn được cải thiện đáng kể, với tỷ lệ công chức có trình độ đại học trở lên tăng dần. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, công tác phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại Kon Tum vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức lớn. Một bộ phận công chức chưa đáp ứng tốt yêu cầu công việc, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập. Năng lực thực thi công vụ còn yếu, thể hiện qua kỹ năng xử lý tình huống, ứng dụng công nghệ thông tin và trình độ ngoại ngữ. Nghiên cứu chỉ rõ: “hiện nay một bộ phận không nhỏ đội ngũ công chức cấp phường (xã) của thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn còn những hạn chế như: năng lực vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu công việc” (Trần Lê Tuấn, 2017). Những yếu kém này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước mà còn làm giảm sút niềm tin của người dân. Việc phân tích sâu các nguyên nhân của hạn chế là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp khắc phục hiệu quả trong tương lai.

2.1. Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực hành chính

Mặc dù trình độ học vấn được nâng lên, chất lượng nguồn nhân lực hành chính tại cấp cơ sở ở Kon Tum vẫn còn nhiều bất cập. Theo số liệu phân tích giai đoạn 2012-2016, tỷ lệ công chức được đào tạo đúng chuyên ngành còn thấp. Nhiều người có bằng cấp nhưng kiến thức và kỹ năng thực tế chưa tương xứng. Kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề còn hạn chế. Đặc biệt, trình độ tin học và ngoại ngữ của đa số công chức vẫn ở mức cơ bản, chưa đáp ứng yêu cầu của chính phủ điện tử và hội nhập quốc tế. Tình trạng này dẫn đến hiệu quả công việc chưa cao, ảnh hưởng đến tiến trình cải cách hành chính cấp cơ sở.

2.2. Bất cập trong cơ cấu và chính sách đãi ngộ

Cơ cấu đội ngũ công chức còn một số điểm chưa hợp lý về độ tuổi và giới tính. Lực lượng công chức trẻ, có trình độ cao chưa nhiều, trong khi một bộ phận lớn tuổi lại chậm thích ứng với thay đổi. Một trong những nguyên nhân chính là chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài còn nhiều hạn chế. Mức lương và phụ cấp chưa thực sự tạo động lực, khó thu hút và giữ chân những người có năng lực, đặc biệt là những người được đào tạo bài bản. Công tác quy hoạch, bổ nhiệm đôi khi còn mang tính cục bộ, chưa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để cán bộ phấn đấu, cống hiến.

III. Giải pháp đào tạo nâng cao chất lượng công chức Kon Tum

Để giải quyết những tồn tại về năng lực, việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thông qua đào tạo và bồi dưỡng là giải pháp ưu tiên hàng đầu. Đây là quá trình đầu tư vào con người, yếu tố quyết định sự thành công của nền công vụ. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại một cách khoa học, bám sát thực tiễn và yêu cầu của từng vị trí việc làm. Thay vì đào tạo dàn trải, cần tập trung vào các kỹ năng thiết yếu mà công chức còn yếu, như kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông, và kỹ năng giao tiếp với người dân. Hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và có sự đánh giá hiệu quả sau đào tạo một cách nghiêm túc. Cần kết hợp nhiều hình thức đào tạo linh hoạt: bồi dưỡng tập trung, tự học có hướng dẫn, và học hỏi kinh nghiệm qua các chuyến công tác thực tế tại các địa phương phát triển. Việc chuẩn hóa đội ngũ thông qua các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã không chỉ nâng cao năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, đồng bộ, là nền tảng cho việc phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại Kon Tum một cách bền vững.

3.1. Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo bồi dưỡng

Nội dung đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh những thay đổi trong chính sách, pháp luật và yêu cầu quản lý mới. Cần giảm tải các nội dung lý thuyết thuần túy, tăng cường các bài tập tình huống, thực hành và thảo luận nhóm. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ truyền thụ một chiều sang tương tác, lấy người học làm trung tâm. Mời các chuyên gia, cán bộ quản lý có kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm quý báu. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong đào tạo, xây dựng các khóa học trực tuyến để công chức có thể học tập mọi lúc, mọi nơi.

3.2. Xây dựng tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã cụ thể

Việc xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã rõ ràng là cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo và đánh giá cán bộ. Mỗi chức danh (Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng, Tư pháp - hộ tịch...) cần có một khung năng lực riêng, mô tả chi tiết các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có. Dựa trên khung năng lực này, các cơ quan quản lý có thể xác định chính xác những điểm mạnh, điểm yếu của từng công chức, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo cá nhân hóa, giúp phát triển đúng và trúng những năng lực còn thiếu.

IV. Tối ưu chính sách để phát triển đội ngũ công chức Kon Tum

Bên cạnh đào tạo, một hệ thống chính sách đồng bộ và hấp dẫn là đòn bẩy quan trọng để phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại Kon Tum. Các chính sách này phải bao quát từ khâu tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cho đến đánh giá và quy hoạch cán bộ. Quá trình tuyển dụng cần được thực hiện công khai, minh bạch, cạnh tranh để chọn được người thực tài. Cần có cơ chế để thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, những người có kinh nghiệm làm việc hiệu quả về công tác tại cơ sở. Một chính sách phát triển nhân lực công hiệu quả phải tạo ra động lực làm việc mạnh mẽ. Điều này đòi hỏi phải cải cách căn bản chế độ tiền lương và các khoản phụ cấp, đảm bảo công chức có thể sống được bằng lương và yên tâm công tác. Bên cạnh đó, việc xây dựng một môi trường làm việc dân chủ, chuyên nghiệp, nơi mọi đóng góp được ghi nhận và tôn vinh, cũng là yếu tố then chốt. Hệ thống đánh giá hiệu quả công việc công chức phải được đổi mới theo hướng định lượng, dựa trên kết quả công việc cụ thể, làm cơ sở công bằng cho việc khen thưởng, kỷ luật và đề bạt, bổ nhiệm. Chỉ khi có một hệ thống chính sách toàn diện, địa phương mới có thể xây dựng được một đội ngũ công chức tâm huyết và tài năng.

4.1. Cải thiện chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài

Để nâng cao tính cạnh tranh của khu vực công, chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài cần được xem xét lại một cách toàn diện. Ngoài lương cơ bản, cần nghiên cứu các khoản thưởng theo hiệu suất công việc, phụ cấp đặc thù cho các khu vực khó khăn hoặc các vị trí đòi hỏi chuyên môn cao. Thành phố Kon Tum có thể học hỏi mô hình của Đà Nẵng hay TP.HCM trong việc hỗ trợ nhà ở, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ cho công chức và gia đình họ. Việc xây dựng một thương hiệu nhà tuyển dụng công vụ uy tín, chuyên nghiệp và năng động sẽ giúp thu hút những ứng viên chất lượng cao.

4.2. Đổi mới công tác đánh giá và quy hoạch cán bộ

Công tác đánh giá hiệu quả công việc công chức cần chuyển từ hình thức sang thực chất. Áp dụng các công cụ quản lý hiện đại như KPI (Key Performance Indicator) cho từng vị trí. Kết quả đánh giá phải được công khai và là căn cứ chính cho việc quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Quy hoạch cán bộ cần có tầm nhìn dài hạn, chú trọng phát hiện và bồi dưỡng các nhân tố trẻ, có tiềm năng. Thực hiện luân chuyển cán bộ giữa các phường, xã và giữa cấp xã với cấp thành phố để rèn luyện, thử thách và tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận có năng lực toàn diện.

V. Kinh nghiệm phát triển đội ngũ công chức từ các địa phương

Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm phát triển đội ngũ công chức từ các địa phương đi trước như TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng là vô cùng cần thiết cho Kon Tum. Đây là những bài học thực tiễn quý báu, giúp địa phương tránh được những sai lầm và rút ngắn con đường đi đến thành công. TP. Hồ Chí Minh đã thành công trong việc thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, tạo động lực cho các đơn vị tinh gọn bộ máy và tăng thu nhập cho cán bộ. Mô hình này cho thấy khi được trao quyền tự chủ và gắn trách nhiệm với lợi ích, hiệu quả quản lý nguồn nhân lực công sẽ được cải thiện rõ rệt. Trong khi đó, Đà Nẵng lại là một điển hình về chính sách thu hút nhân tài với các đề án đột phá, tạo ra một môi trường làm việc cạnh tranh và cơ hội thăng tiến rộng mở. Họ đã chứng minh rằng đầu tư mạnh mẽ vào con người là chiến lược phát triển thông minh và bền vững nhất. Tất nhiên, việc áp dụng kinh nghiệm không thể máy móc mà cần có sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với điều kiện và đặc thù của thành phố Kon Tum, một địa phương miền núi với những đặc điểm riêng về kinh tế, văn hóa và xã hội.

5.1. Bài học từ mô hình quản lý nhân lực công tại TP.HCM

TP. Hồ Chí Minh chú trọng việc đào tạo theo chức danh và vị trí việc làm, đồng thời thường xuyên tổ chức các khóa học tập kinh nghiệm ở nước ngoài về quản lý đô thị, bảo vệ môi trường. Đặc biệt, việc thực hiện thí điểm khoán biên chế đã “giảm được 14,96% biên chế” và thu nhập tăng “từ 1,5 đến 2,5 lần” (Trần Lê Tuấn, 2017, trích dẫn [49]). Bài học cho Kon Tum là cần mạnh dạn thí điểm các cơ chế quản lý mới, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị cơ sở, qua đó nâng cao hiệu quả và tạo động lực cho đội ngũ cán bộ.

5.2. Vận dụng kinh nghiệm thu hút nhân tài của Đà Nẵng

Đà Nẵng thành công với các chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện thi tuyển công chức, cho thuê nhà ở xã hội hoặc hỗ trợ vay vốn ưu đãi. Kinh nghiệm phát triển đội ngũ công chức ở đây cho thấy tầm quan trọng của một chiến lược dài hạn và quyết tâm chính trị cao. Kon Tum có thể xây dựng một đề án thu hút nhân tài riêng, tập trung vào các lĩnh vực mà địa phương đang cần, đặc biệt là các chuyên gia về nông nghiệp công nghệ cao, du lịch sinh thái và quản lý đô thị, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội Kon Tum.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển đội ngũ công chức cấp phường xã tại kon tum tỉnh kom tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. CAC KHAI NIEM CO BAN PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Nhân lực Lịch sử nghiên cứu cho thấy đã có nhiều công trình trong và ngoài nước. nghiên cứu về nhân lực như: “Nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh.

tinh thần, cả ở mặt tài và mặt đức.” [2] “Nhân lực là sức lực trong mỗi con người, trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động.” [21] “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực” [21] Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực; nó. phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tuyên quyết của. mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội.

Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể và nó phụ thuộc vào sức vóc và tỉnh trạng sức khỏe của từng người, mức sống, y tế, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, Trí lực là chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,. của mỗi người. “Có thể kết luận, nhân lực là nguôn lực của mỗi con người mà nguồn lực nay bao gém thé lực, trí lực và nhân cách. Nguồn nhân lực 4.

Nguồn nhân lực nói chung nhân lực - hay còn được gọi là “nguồn lực con người” được hiểu. 10 ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng nhiều vào thập kỷ 60 của thế ky XX 6 nhiều nước phương Tây và ở một số nước châu Á khi khoa học “quản trị nguồn nhân lực " phát triển. Ở góc độ khác, nguồn nhân lực có nội hàm phong phú hơn, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ.

trí thức, học vấn, nghề nghiệp, .) tạo thành năng lực của con người (cá nhân. và công đồng) với tư cách chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực nói lên tiềm năng của con người cả về lượng (quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, phân bố dân cư,,.) và chất (tổng hợp những đặc trưng về thể lục, trí lục, tay nghề, phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức,. ) có thể huy động, khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

“Theo cách tiếp cận của UNO, nguồn nhân lực là tắt cả kiến thứ kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, nguồn nhân lực được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. Theo Begg, Fircher và Dombush`, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có trỉ thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huồng trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống Theo GS.TS, Phạm Minh Hạc: “nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số "fate git cin cuba shh “Economics” " và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.

Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham. gia phát triển KT-XH của một quốc gia hay một địa phương nào đó”. [25] Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân cư của một đắt nước với Ất cả các đặc điểm. At, tinh than, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất va lịch sử của dân Dựa vào những quan niệm trên ta thấy rằng, nguồn nhân lực trong một chức sẽ bao gồm các mặt cơ bản sau: (1) Về số lượng của nhân viên trong tổ chức: thể hiện quy mô của tỗ chức, số lượng nhân viên cảng đông, quy mô tổ chức cảng lớn và ngược lại lượng ít, quy mô tô chức nhỏ.

(2) Vé cơ cấu nhân viên trong tô chức: thể hiện tính đa dang cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị. Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực trong tổ chức. (3) Về chất lượng nhân viên trong tô chức: chất lượng nhân viên được. hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc sống.

Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: trí lực, thể lực và đạo đức. Tom lai, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng thể những tiểm năng của con người (trưới hễt và cơ bản nhất là tiểm năng lao động), gồm: thể lực, tri lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu câu của một tổ chức hoặc. một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định. Nguồn nhân lực công chức cắp phường (xã) Nguồn nhân lực công chức là công đân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cắp huyện; 12 trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

và trong bộ máy lãnh dao, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Cong sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung 18 đơn vi sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nướ ; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghỉ p công lập theo quy định của pháp luật. Nguồn nhân lực công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp. xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực.

& Phát triển Là quá trình biến đổi hoặc làm cho biển đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến. rộng, từ thấp đến cao và từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; là sự tiến bộ, sự đi lên dựa trên nền tảng có sẵn hoặc cải tiến từ hiện tại; là quá trình chuẩn 'bị và cung cắp những năng lực cẳi thiết cho tổ chức trong tương lai b. Phát triễin nguén nhân lực. Con nguisi muốn tổn tại và phát triển cần phải được thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về sản phẩm vật chất và tỉnh thần.

Muốn sản xuất con người phải có cơ sở nguồn lực vật chat, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ,. và hợp thành các nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồn lực con người là yếu tố cách mạng nhất và động nhất. Để có được những sản phẩm đó con người phải tiến hành sản xuất ra chúng. Chính bởi vậy, bản thân con người trở thành mục tiêu của sự phát triển.

Nhu cầu con người ngày. số lượng và nâng cao về cỉ để tạo ra. những sản phẩm phù hợp. Để thực hiện được việc đó, nguồn nhân lực phải được phát triển.

13 Nguồn lực con người như vậy không chỉ là đối tượng mà còn là động lực của sự phát triển. Cho đến nay, do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên. vẫn có nhiều cánh hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực: Theo UNESCO và một số nhà kinh tế sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ứng yêu cầu của việc làm. ‘Theo ILO cho ring, phai hiéu phat triéi nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả để đảo tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người dé tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.

"Theo UN thì khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đảo tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đấy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. ‘Theo Christian Batal' thi phát triển nguồn nhân lực là phát triển về năng lực và đông cơ, năng lực (theo cách hiểu ngày nay) là một khái niệm mới, dẫn thay thế khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn”. Trong khi khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn” tương đối “tinh” va mang tính tập thể, thì khái niệm năng lực mang tính linh hoạt hơn, là một công cụ sắc bén, nó phù hợp hơn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong một thế giới việc làm luôn biến động. 'Năng lực, xét theo phạm trù thường dùng nhất, năng lực làm việc tương ứng với "kiến thức”, "kỹ năng”, và "hành vi thái độ” cẳn huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc.

Harbison” và Myer” thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực là quá trình. nâng cao kiễn thức, kỹ năng và năng lực của tắt cả mọi người trong xã hội Ong ite gi cia mit cuỗn sich rong lai tập mangtên “Quản lý nguồn nhân lực ong khu vụ công”. edcrick Haris Ieboera 1912- 1976) là một nhủ kinh lẻ bọc lao động người Mỹ và la Go sự Kính Lý L9 động gi Dạ bọc Prinecton Ông được biết đến ới nghiền cứu năm 950 ca ông "Quản lý rong thể g9(Charles công nghệp” Andrew v Myers các công (1913tình~ 2000) khác vlà mộtao động nhủ nhvà quản lạlý động Mộ và Giáo sự Kinh t Lao động ti “Viện Công nghệ Masaehusets, được bit đến từ nghiền cứu cứ ông về "Quân lý rung th giới công nghập 14 Đối với nước ta cũng có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: ‘Theo GS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ