Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ là một trong những trụ cột then chốt nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Tại tỉnh Kon Tum, quy mô dân số năm 2016 ước đạt khoảng 507.000 người, trong đó lực lượng lao động dồi dào với 295.250 người, chiếm 59,1% tổng dân số. Lực lượng lao động nữ chiếm 138.010 người, tương đương 46,7% nguồn nhân lực toàn tỉnh. Mặc dù tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2016 đạt 11.284,30 tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng 8,06%, thị trường lao động địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính đặc thù của một tỉnh miền núi vùng cao Bắc Tây Nguyên.

Với hơn 53% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 25 dân tộc cùng sinh sống, phụ nữ Kon Tum đang đối mặt với tình trạng thiếu việc làm theo mùa vụ, thu nhập bấp bênh và rào cản lớn về trình độ chuyên môn kỹ thuật. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác giải quyết việc làm cho phụ nữ, đánh giá thực trạng giai đoạn 2012–2016, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học để nâng tỷ lệ lao động nữ được tạo việc làm mới hàng năm từ mức 37,9% lên trên 45%, góp phần giảm nghèo bền vững và hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng giới tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân công lao động theo giới của nhà kinh tế học Ester Boserup (1970), chỉ rõ rằng phụ nữ đóng góp phần lớn giá trị sản xuất nông nghiệp nhưng thường bị gạt ra ngoài lề các chính sách kinh tế chính thống. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết thị trường lao động phân khúc của các chuyên gia kinh tế trong nước nhằm lý giải sự phân hóa rõ nét giữa khu vực chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức tại các vùng nông thôn miền núi.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo Luật Lao động năm 2012 và Nghị định 85/2015/NĐ-CP:

  • Việc làm đầy đủ: Hoạt động lao động đáp ứng tiêu chuẩn thời gian 8 giờ mỗi ngày và mang lại thu nhập không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định.
  • Thiếu việc làm vô hình và hữu hình: Tình trạng người lao động làm đủ thời gian nhưng thu nhập dưới chuẩn do năng suất thấp (đo bằng hệ số K giữa thu nhập thực tế và mức lương tối thiểu) hoặc làm việc dưới quỹ thời gian chuẩn nhưng có nhu cầu làm thêm.
  • Thất nghiệp cơ cấu: Sự mất cân đối giữa cơ cấu ngành nghề đào tạo và nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp.
  • Bình đẳng giới trong lao động: Quyền tiếp cận cơ hội việc làm, đào tạo nghề, thang bảng lương và thụ hưởng an sinh xã hội bình đẳng giữa nam và nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2012–2016 được thu thập chính thức từ Cục Thống kê tỉnh Kon Tum, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Kon Tum.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài tiếp cận toàn bộ dữ liệu thống kê tổng thể của 10 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố và 97 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, bao quát 290.760 lao động đang làm việc thực tế và 1.570 chỉ tiêu việc làm mới được tạo ra trong năm 2016.

Nghiên cứu lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh chuỗi thời gian (time-series comparative analysis) và phân tích cơ cấu kinh tế. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan, toàn diện xu hướng biến động cung - cầu lao động nữ qua từng năm mà không bị sai lệch bởi các biến số nhiễu từ các cuộc điều tra chọn mẫu nhỏ lẻ. Khung thời gian phân tích tập trung từ năm 2012 đến năm 2016 và định hướng giải pháp đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động phân bố lệch sâu vào khu vực nông nghiệp và nông thôn. Năm 2016, toàn tỉnh có 184.335 lao động làm việc tại khu vực nông thôn (chiếm 63,4%), trong đó ngành nông - lâm - thủy sản thu hút tới 194.228 người, chiếm 66,8% tổng lực lượng lao động đang làm việc. Ngược lại, ngành công nghiệp chế biến chỉ thu hút 18.850 người (chiếm 6,5%) và ngành khai khoáng chỉ chiếm 560 người.

Thứ hai, khu vực kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng áp đảo nhưng thiếu tính ổn định. Toàn tỉnh có 223.135 lao động làm việc trong khu vực kinh tế cá thể (chiếm 76,7%), trong khi khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm 26.890 lao động (9,2%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ thu hút 3 lao động. Phụ nữ chủ yếu làm việc trong mô hình kinh tế nông hộ quy mô nhỏ, chịu rủi ro cao về thu nhập.

Thứ ba, cơ hội tiếp cận việc làm mới của lao động nữ thấp hơn đáng kể so với nam giới. Năm 2016, trong tổng số 1.570 lao động được tạo việc làm mới, lao động nữ chỉ đạt 595 người, chiếm tỷ trọng 37,9%. Mức tăng trưởng tạo việc làm cho nữ đạt 132,22% so với năm trước nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn tỉnh (142,00%).

Thứ tư, nguồn vốn tín dụng ưu đãi khẳng định vai trò trụ cột. Đến ngày 15/11/2016, Quỹ quốc gia giải quyết việc làm (Chương trình 120) đã giải ngân 11.821 triệu đồng, hỗ trợ tạo việc làm mới trực tiếp cho 935 người lao động, trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng cho phụ nữ nghèo tự tạo việc làm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ trình độ học vấn và tay nghề của lao động nữ còn thấp, đặc biệt tại các huyện vùng sâu như Kon Plông, Đăk Glei nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số. Phụ nữ vùng cao chịu gánh nặng kép từ việc nội trợ, sinh nở và định kiến giới truyền thống, làm suy giảm năng lực cạnh tranh trên thị trường tuyển dụng chính thức. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của TS. Hoàng Bá Thịnh và TS. Trần Thị Thu về rào cản tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp của phụ nữ nông thôn.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu phân bổ 290.760 lao động theo 3 nhóm ngành kinh tế chính (Nông nghiệp chiếm 66,8%, Dịch vụ chiếm 26,7%, Công nghiệp - Xây dựng chiếm 6,5%). Đồng thời, bảng ma trận đối chiếu cung - cầu lao động quý 1/2017 theo 5 cấp trình độ chuyên môn (đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp nghề và lao động phổ thông) sẽ làm nổi bật sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực nữ có chứng chỉ nghề, qua đó định hướng giải pháp can thiệp trúng đích.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với UBND các huyện tổ chức định kỳ 12 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm tại các xã vùng sâu. Mục tiêu nâng tỷ lệ kết nối việc làm thành công cho lao động nữ lên 45-50% trong giai đoạn 2018–2020.

Thứ hai, mở rộng quy mô giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh. Đơn vị cần phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh để tăng trưởng dư nợ cho vay giải quyết việc làm tối thiểu 15% mỗi năm, phấn đấu nâng tổng nguồn vốn quay vòng đạt trên 25.000 triệu đồng vào năm 2020, tạo việc làm mới cho hơn 1.800 lao động nữ.

Thứ ba, đổi mới chương trình đào tạo nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg gắn với chuỗi giá trị nông sản chủ lực. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các cơ sở dạy nghề xây dựng mô hình đào tạo kỹ thuật trồng, chế biến sâm Ngọc Linh, cà phê và cao su. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo nghề lên trên 40% vào năm 2020, tập trung vào phụ nữ dân tộc thiểu số.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, giám sát thực thi chính sách lao động nữ tại các doanh nghiệp. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Liên đoàn Lao động tỉnh tiến hành thanh tra định kỳ 100% doanh nghiệp trên địa bàn, bảo đảm thực hiện nghiêm túc Nghị định 85/2015/NĐ-CP về phòng vắt sữa, buồng vệ sinh riêng và chế độ thai sản trong suốt giai đoạn 2017–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê, UBND các huyện, thành phố tại Kon Tum). Luận văn cung cấp bức tranh số liệu thực chứng giai đoạn 2012–2016 giúp xây dựng đề án phát triển nhân lực và phân bổ chỉ tiêu ngân sách giải quyết việc làm hàng năm sát thực tế.

Thứ hai, các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, Đoàn Thanh niên, Liên đoàn Lao động). Tài liệu đóng vai trò cẩm nang hướng dẫn thành lập các tổ hợp tác phụ nữ tự tạo việc làm, quản lý nguồn vốn vay ủy thác và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nữ công nhân.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Kinh tế Phát triển, Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết phân công lao động theo giới và phương pháp luận phân tích thị trường lao động đặc thù vùng Tây Nguyên.

Thứ tư, các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu giúp nắm bắt đặc điểm nhân khẩu học của 138.010 lao động nữ, từ đó tối ưu hóa chính sách tuyển dụng và bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật lao động hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ tại tỉnh Kon Tum giai đoạn 2012–2016 như thế nào? Lực lượng lao động nữ tại Kon Tum đạt 138.010 người vào năm 2016, chiếm 46,7% tổng lực lượng lao động toàn tỉnh. Tỷ lệ này duy trì mức tăng trưởng ổn định khoảng 3,57% mỗi năm, khẳng định phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng đóng góp vào quy mô GRDP 11.284,30 tỷ đồng của tỉnh.

Nguồn vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm phát huy hiệu quả cụ thể ra sao? Tính đến ngày 15/11/2016, quỹ đã giải ngân 11.821 triệu đồng, hỗ trợ tạo việc làm mới cho 935 người lao động. Nguồn vốn tín dụng chính sách với lãi suất ưu đãi đã giúp hàng trăm hộ gia đình phụ nữ đầu tư chăn nuôi, trồng trọt và chuyển dịch sang dịch vụ nhỏ.

Vì sao lao động nữ tại Kon Tum vẫn tập trung chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và kinh tế cá thể? Toàn tỉnh có 194.228 lao động làm việc trong ngành nông nghiệp (chiếm 66,8%) và 223.135 lao động thuộc khu vực cá thể (chiếm 76,7%). Nguyên nhân chính là do hơn 53% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ tay nghề hạn chế và thiếu các khu công nghiệp chế biến quy mô lớn.

Luận văn đã vận dụng những căn cứ pháp lý nào để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ? Nghiên cứu căn cứ vào Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định 85/2015/NĐ-CP về chính sách đối với lao động nữ và Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, nhằm yêu cầu doanh nghiệp bảo đảm điều kiện vệ sinh, khám phụ khoa định kỳ và thời giờ làm việc hợp lý.

Mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động nữ Kon Tum đến năm 2020 đặt ra những chỉ tiêu gì? Mục tiêu trọng tâm đến năm 2020 là nâng tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo nghề lên trên 40%, giải quyết việc làm mới cho hơn 1.800 lao động nữ mỗi năm, đồng thời mở rộng quy mô vốn tín dụng ưu đãi lên trên 25.000 triệu đồng để hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận quản lý kinh tế về giải quyết việc làm cho lao động nữ tại vùng miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao trên 53%.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng quy mô 138.010 lao động nữ tỉnh Kon Tum giai đoạn 2012–2016, chỉ rõ tỷ lệ tạo việc làm mới cho phụ nữ mới đạt 37,9%.
  • Nhận diện các nút thắt cơ cấu khi có tới 66,8% lao động dồn vào nông nghiệp và 76,7% thuộc khu vực kinh tế cá thể bấp bênh.
  • Làm rõ hiệu quả đòn bẩy của nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm với 11.821 triệu đồng giải ngân trực tiếp cho 935 lao động.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp gắn kết giữa tư vấn việc làm, mở rộng tín dụng chính sách, đổi mới dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg và tăng cường thanh tra pháp luật lao động.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2018–2020, ưu tiên nguồn lực cho các huyện khó khăn như Đăk Glei, Tu Mơ Rông và Kon Plông. Các cấp chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể và doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, thúc đẩy bình đẳng giới và bảo đảm an sinh xã hội vững chắc cho tỉnh Kon Tum.