CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VE TO CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ 1.Lý luận về tổ chức KH&CN 1. Khái niệm tổ chức KH&CN Khái niệm Tổ chức: Có nhiều định nghĩa khác nhau về danh từ “Tổ chức”. Trước hết, ta phải kế đến một định nghĩa mang tính triết học sâu sắc: “Tổ chức nói rộng là cơ cấu ton tại của sự vật. Sự vật không thê tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung.
Tổ chức vi vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [2, tr. Định nghĩa này bao quát cả phân tự nhiên và xã hội loải người. Theo ngôn ngữ thông thường, t6 chức thường được định nghĩa như là tập hop của nhiều người, nhiều nhóm người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu chung ma nếu chỉ một người hay một nhóm người thì không thê thực hiện được. Với cách định nghĩa đơn giản như vậy, thì các tổ chức rõ ràng rat đa dang và khác nhau về mục dich tồn tại và phương thức hoạt động.
Tuy nhiên, mọi tổ chức là một thực thé xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp dé thực hiện mục tiêu chung đều có những đặc trưng cơ bản sau: + Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng. Nghĩa là các tổ chức phải phục vụ cho các mục tiêu xác định chứ không thê tùy ý hành động. Ngay cả các công ty tư nhân, các tập đoàn đa quốc gia, mục tiêu của nó là tổ hợp nhiều mục tiêu hợp thành nhưng vẫn phải chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, thống nhất với mục đích chung của toàn thể cộng đồng, chịu trách nhiệm xã hội với hoạt động của mình. + Có cơ cau tổ chức, phân công lao động.
Nghia là mọi người tham gia vào tổ chức được phân công vào những vi trí, bộ phận khác nhau đảm nhận các chức năng khác nhau phù hop với yêu cầu của tổ chức, trình độ va năng lực cá nhân. Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt đề. 15 + Có một ban quản lý. Ban quản lý có bốn phận đại diện cho công đồng với công việc trong và ngoài tổ chức.
Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và thực hiện mục tiêu của tô chức. + Môi trường của t6 chức: Tổ chức gắn chặt các hệ thống kinh tế xã hội nơi nó đang ton tại, mục tiêu của tô chức có thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào hệ thống kinh tế xã hội mà ta gọi là môi trường của tô chức. Trong xã hội hiện đại, các tô chức đang ton tại thật vô cùng đa dạng và phong phú. Chúng có thé khác nhau khi trả lời các câu hỏi: Ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Té chức được tạo nên vì mục đích của tô chức là gì? Các mỗi quan hệ trong tô chức có thể hiện rõ ràng hay không? Dẫn đến việc phân loại các tổ chức có nhiều quan điểm khác, và dẫn tới sự thành của nhiều tổ chức mới.
Gabriel (1976) trong tác phẩm T6 chức và chuyển đổi xã hội đã viết "Tô chức là một sản pham của quá trình chuyên đổi xã hội — nếu xét về sự mở rộng về 86 lượng và cơ cấu chất lượng — và có thể được coi là một đại lượng quan trọng của sự chuyên đổi xã hội". Sự tiến hóa và phát triển của tổ chức luôn gắn liền với những biến đổi của trật tự kinh tế xã hội và tác động vào quá trình hình thành của chính trật tự đó. Nhìn vào lịch sử, sự tiến triển của tổ chức gắn với quá trình công nghiệp hóa tạo ra những biến đổi sâu sắc của xã hội trên phạm vi toàn cau. Hình thành các tô chức mới như nhà máy công nghiệp, tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ,.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học và công nghệ, khiến các tổ chức khoa học và công nghệ ngày càng hiện rõ hơn, thành một loại hình tổ chức được gọi tên chính thức trong hệ thong các tổ chức, thậm chi ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu và nhận thức về tổ chức khoa học và công nghệ sẽ giúp ta nam bắt va phát huy được những điểm mạnh của tô chức trong lĩnh vực nay. Vậy tổ chức khoa học va công nghệ là gi? Trước hết, ta cần hiểu về hoạt động Khoa học va công nghệ. Hoạt động Khoa học và công nghệ.
Francis Bacon, triết gia lớn người Anh đã từng tiên đoán: "Khoa học là sức mạnh". Lời tiên đoán đó đã được thể nghiệm trong đời sống của khoa học trong xã hội đương đại, nhất là từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bat đầu bùng nỗ với những thành tựu của nền cơ học cổ điền. Tiếp đó những cuộc cách mạng công nghệ liên tục xuất hiện trong lịch sử. Khoa học và công nghệ ngày càng chứng tỏ sức mạnh vượt 16 qua những câu chuyện trong các tiểu thuyết viễn tưởng và ngay cả sức tưởng tượng của những nhà khoa học tài ba nhất.
Hoạt động nghiên cứu khoa học làm phát triển kho tàng tri thức của nhân loại, đặt nền tảng cho sự phát triển của những nguyên lý công nghệ. Đến lượt công nghệ lại đóng vai trò thúc day sản xuất phát triển, đem lại những tác động sâu xa đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội, trong truyền thống văn hóa. Trong gần 3 thập niên qua, nhiều cải cách trong lĩnh vực KH&CN bắt nguồn từ thực tế của nền kinh tế và xã hội nước ta, đã được thực hiện. Hoạt động KH&CN đã trở thành một sự nghiệp mà mọi công dân và tổ chức, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tham gia.
Về bản chất, hoạt động này bao gồm "hoạt động khoa học" và "hoạt động công nghệ". Như vậy, xác định được đúng nội dung của "hoạt động khoa hoc" và "hoạt động công nghệ" có một ý nghĩa thiết thực rất lớn. Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 đã xác định (Điều 2): Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tw duy. Như vậy khoa học là sản pham của con người trong hoạt động sản xuất tri thức.
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Định nghĩa này nhẫn mạnh vào dạng thức cụ thể của công nghệ và/hoặc vật mang kiến thức công nghệ đó. Như vậy, hoạ động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN. Hoạt động KH&CN đề cập trong Luận văn này bao gồm các hoạt động KH&CN nêu trong Điều 2, điểm 3 của Luật KH&CN năm 2000, cụ thé: - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng; 17 - Phat trién cong nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm va sản xuất thử nghiệm; - Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dung kết quả nghiên cứu khoa học dé làm thực nghiệm nham tao ra công nghệ mới, sản phâm mới; Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tai nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiễn, đậm đà ban sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chât lượng cuộc sông của nhân dân, bảo đảm quôc phòng, an ninh. Do đó, Hoạt động khoa học và công nghệ có các nhiệm vụ sau đây: * Vận dụng sáng tạo va phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế SIỚI; * Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ dé làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai; Y Tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới dé tạo ra, ứng dụng có hiệu quả các công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; day mạnh việc phố biến va ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuât và đời sông. 18 Tổ chức Khoa học và công nghệ: Tổ chức khoa học và công nghệ có thể được định nghĩa như sau: “Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ” [22, tr .29] Tổ chức KH&CN là những hình thức tập hợp các nhà khoa học, các nhà công nghệ dé tiến hành hoạt động KH&CN.
Do đó có bao nhiêu loại hoạt động KH&CN thì có bay nhiêu loại tổ chức KH&CN. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, tam quan trọng của các tô chức KH&CN đã được thừa nhận rộng rãi. Số lượng các tô chức khoa học và công nghệ lúc ban đầu còn ít, nhưng giờ đây nó đã tăng mạnh về số lượng và loại hinh.T6 chức khoa học và công nghệ cao, quy mô lớn lần đầu tiên xuất hiện năm 1951.