Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ăn quả giữ vai trò chiến lược trong cơ cấu chuyển dịch cây trồng và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam. Nhiều vùng chuyên canh trái cây đặc sản nổi tiếng đã được hình thành như nhãn lồng Hưng Yên, cam Xã Đoài, ổi Thanh Hà, nho Ninh Thuận và cam sành Hà Giang. Tuy nhiên, sự bùng phát của các loài dịch hại gây tổn thất nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng quả, trong đó ruồi đục quả Bactrocera correcta (Bezzi) thuộc họ Tephritidae (bộ Hai cánh - Diptera) là một trong những đối tượng nguy hiểm hàng đầu.

Loài Bactrocera correcta phân bố rộng tại các nước châu Á và khu vực Đông Nam Á đến Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, ruồi gây hại quanh năm trên nhiều loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao như bưởi, xoài, vú sữa, thanh long, ổi, đào, sơ ri. Cơ chế gây hại diễn ra khi trưởng thành cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng vỏ quả và đẻ trứng vào phần giáp ranh giữa vỏ và thịt quả; sâu non (giòi) sau khi nở sẽ đục khoét mô thịt quả, thải phân gây nhiễm thứ cấp bởi vi sinh vật, làm quả thối rữa và rụng hàng loạt, tỷ lệ hại có thể lên đến 100% đối với các vườn không bao bọc quả. Bên cạnh thiệt hại trực tiếp trên đồng ruộng, B. correcta còn là đối tượng kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt của các quốc gia nhập khẩu, tạo rào cản kỹ thuật lớn cho nông sản Việt Nam.

Hiện nay, các biện pháp phòng trừ truyền thống chủ yếu dựa vào bẫy bả protein/pheromone và phun thuốc hóa học nhưng hiệu quả chưa cao, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và tồn dư hóa chất. Các hướng tiếp cận tiên tiến trên thế giới như kỹ thuật triệt sản côn trùng (SIT - Sterile Insect Technique) hoặc nhân nuôi thiên địch (như nhện bắt mồi họ Phytoseiidae sử dụng trứng ruồi làm thức ăn) đòi hỏi phải xây dựng được quy trình nhân nuôi quần thể ruồi đục quả số lượng lớn, ổn định trong phòng thí nghiệm. Quá trình nhân nuôi này phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố sinh thái, đặc biệt là nguồn thức ăn và nhiệt độ môi trường.

Để giải quyết yêu cầu thực tiễn trên, đề tài khóa luận được thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn nhân tạo và tự nhiên đến các chỉ tiêu sinh học (kích thước, khối lượng, thời gian phát dục, tỷ lệ sống, sức sinh sản) của ruồi đục quả Bactrocera correcta khi nhân nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm.
  2. Xác định ảnh hưởng của các ngưỡng nhiệt độ (25°C và 30°C) đến vòng đời, thời gian phát dục các pha và sức sinh sản của ruồi đục quả Bactrocera correcta.
  3. Đánh giá tập tính lựa chọn thức ăn đẻ trứng và xác định nhịp điệu đẻ trứng trong ngày của trưởng thành cái, làm cơ sở đề xuất chế độ nhân nuôi hiệu quả phục vụ công tác quản lý dịch hại sinh học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ruồi đục quả Bactrocera correcta (Diptera: Tephritidae).
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2021 đến tháng 09/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phân loại học

Theo hệ thống phân loại côn trùng học (CABI, 2020), ruồi đục quả Bactrocera correcta (Bezzi) có vị trí phân loại như sau:

  • Giới: Động vật (Metazoa)
  • Ngành: Chân đốt (Arthropoda)
  • Lớp: Côn trùng / Sâu bọ (Insecta)
  • Bộ: Hai cánh (Diptera)
  • Họ: Ruồi đục quả (Tephritidae)
  • Phân họ: Dacinae
  • Giống: Bactrocera
  • Loài: Bactrocera correcta Bezzi (Tên tiếng Anh thông dụng: Guava Fruit Fly).

Vòng đời của ruồi biến thái hoàn toàn qua 4 pha phát dục: trứng, sâu non (3 tuổi), nhộng (dạng nhộng bọc) và trưởng thành. Các nghiên cứu nền tảng của Armstrong & Jang (1997), Peterson (2000), Liu & Ye (2009), Kamiji & cs. (2014) cùng các tác giả trong nước như Lê Đức Khánh, Nguyễn Thị Chắt, Chu Hồng Châu, Nguyễn Thị Thanh Hiền đã chỉ ra rằng dinh dưỡng (tỷ lệ protein/đường) và nhiệt độ môi trường là hai nhân tố sinh thái chi phối trực tiếp tốc độ tích lũy nhiệt hữu hiệu, tỷ lệ sống sót và sức sinh sản của giống ruồi này.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm sinh học cá thể và quần thể theo quy trình chuẩn của Moadeli & cs. (2017) với các nội dung chi tiết:

  1. Thu thập và tạo nguồn nuôi: Thu thập quả ổi và các loại quả bị ruồi đục rụng ngoài tự nhiên tại Gia Lâm, Hà Nội mang về phòng thí nghiệm nuôi cho sâu non phát triểnẫy sức, nhảy vào khay mùn cưa để hóa nhộng. Thu nhộng chuyển vào lồng lưới (kích thước 40 x 40 x 40 cm), giám định phân loại trưởng thành thuần nhất loài B. correcta, cho ăn thức ăn bổ sung (đường trắng, nấm men bia, nước cất và nước táo) để kích thích thành thục sinh dục và đẻ trứng phục vụ các bố trí thí nghiệm.

  2. Thí nghiệm yếu tố thức ăn: Đánh giá 4 công thức (CT) thức ăn cho sâu non (mỗi công thức 5 lần lặp lại, $N = 20$ đĩa petri, mỗi đĩa 25 ml thức ăn và cấy 50 quả trứng):

    • CT1 (Công thức chuẩn): 204 g nấm men bia, 121,55 g đường trắng, 2 ml dầu mầm lúa mạch, 10 g bột agar, nipagin, sodium benzoate, citric acid, 1000 ml nước cất.
    • CT2: Giảm 33,34% nấm men bia (còn 136 g) và đường trắng (còn 81,03 g) so với CT1; giữ nguyên phụ gia, agar (10 g) và nước (1000 ml).
    • CT3: Giảm 50% nấm men bia (còn 102 g), đường trắng (còn 60,78 g) và phụ gia so với CT1; giữ nguyên agar (10 g) và nước (1000 ml).
    • CT4 (Thức ăn tự nhiên): Thịt quả ổi tươi xay nhuyễn kết hợp 10 g nấm men, đường, nipagin, 3 g agar và 100 ml nước cất.
Thành phần nguyên liệu Công thức 1 (Chuẩn) Công thức 2 (-33,34%) Công thức 3 (-50%) Công thức 4 (Ổi tươi)
Nấm men bia (g) 204 136 102 10
Đường trắng (g) 121,55 81,03 60,78 Có trong công thức
Dầu mầm lúa mạch (ml) 2 2 1 -
Bột Agar (g) 10 10 10 3
Thịt quả ổi xay (g) - - - Thịt quả tươi
Nước cất (ml) 1000 1000 1000 100
  1. Thí nghiệm yếu tố nhiệt độ: Đặt các đĩa nuôi sâu non thuộc công thức thức ăn chuẩn trong tủ định ôn ở 2 mức nhiệt độ cố định: 25°C và 30°C, kiểm soát ẩm độ 60 - 70%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng : 12 giờ tối.

  2. Phương pháp theo dõi tập tính và nhịp điệu sinh sản:

    • Tập tính đẻ trứng có lựa chọn: Bố trí 1 cặp ruồi trưởng thành (đực + cái) vào hộp (15 x 10 x 10 cm), đặt đồng thời 4 đĩa thức ăn thuộc 4 công thức khác nhau, lặp lại 5 cặp x 4 lần ($N = 20$ cặp), thu và đếm số lượng trứng đẻ vào cuối ngày trong 5 ngày liên tục.
    • Tập tính đẻ trứng không lựa chọn: Đặt từng loại thức ăn riêng biệt vào từng hộp nuôi 1 cặp trưởng thành, theo dõi trong 5 ngày ($N = 20$ cặp).
    • Nhịp điệu đẻ trứng trong ngày: Bố trí 5 cặp trưởng thành x 4 lần lặp lại, theo dõi từ 6h00 đến 20h00, cứ 2 giờ thu đếm trứng một lần, thực hiện liên tục trong 3 ngày.
  3. Xử lý số liệu: Tính toán thời gian phát dục trung bình ($\bar{X}$), thời gian sống trung bình và tỷ lệ tử vong. Số liệu được phân tích phương sai (ANOVA), kiểm tra sai khác có ý nghĩa thống kê bằng trắc nghiệm Duncan ở mức tin cậy 95% ($p < 0,05$) trên phần mềm Microsoft Excel và IBM SPSS phiên bản 20.


Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thiệt hại kinh tế to lớn của ruồi đục quả Bactrocera correcta đối với ngành sản xuất cây ăn quả Việt Nam và xuất khẩu nông sản. Đặt vấn đề xác định rõ mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ quy luật tác động của hai nhân tố sinh thái trọng yếu là thức ăn nhân tạo và nhiệt độ môi trường đến sự sinh trưởng, phát triển của loài ruồi này, từ đó phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng quy trình nhân nuôi sinh khối phục vụ nghiên cứu sinh học và biện pháp phòng trừ.

Phần 2: Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Ngoài nước: Thống kê sự đa dạng của hơn 4000 loài ruồi đục quả họ Tephritidae (White & Harris, 1992; Drew & Romig, 1997). Phân tích các nghiên cứu về ngưỡng nhiệt độ phát dục của B. correcta (Liu & Ye, 2009 cho thấy thời gian phát dục sâu non giảm từ 17,59 ngày ở 18°C xuống 7,56 ngày ở 33°C; Kamiji & cs., 2014 khảo sát dải nhiệt từ 19°C đến 31°C). Đánh giá các công thức thức ăn nhân tạo cho ấu trùng dựa trên cà rốt, bột ngô, nấm men và đường (Moadeli & cs., 2017; Peterson, 2000).
  • Trong nước: Tổng hợp kết quả từ các dự án của Cục Bảo vệ thực vật và Viện Bảo vệ thực vật (Đặng Đăng Chương, 2003; Drew & cs., 2000) ghi nhận 30-36 loài ruồi đục quả, trong đó B. correcta, B. dorsalis và B. cucurbitae là 3 loài gây hại chủ yếu. Trích dẫn các công trình nghiên cứu đặc điểm sinh học của B. correcta trên quả vú sữa Lò rèn (Chu Hồng Châu, 2017), trên quả đào mèo (Nguyễn Thị Thanh Hiền, 2014) và cây ăn quả miền Nam.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm tại Bộ môn Côn trùng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thời gian từ tháng 1 đến tháng 9/2021. Trình bày quy cách thiết bị, lồng nuôi, kính hiển vi soi nổi, cân phân tích, quy trình pha chế 4 công thức thức ăn dinh dưỡng, quy trình thu bắt, cấy trứng, phương pháp theo dõi từng pha phát dục và các công thức toán học thống kê sinh học áp dụng.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả tập trung trình bày các dữ liệu thực nghiệm thu được qua các thí nghiệm chuyên sâu:

1. Đặc điểm hình thái và sinh vật học của ruồi đục quả B. correcta

  • Trứng: Kích thước trung bình $1,10 \pm 0,15\text{ mm}$ (chiều dài) x $0,15\text{ mm}$ (chiều rộng). Trứng hình quả dưa chuột, màu trắng trong khi mới đẻ, chuyển trắng đục và ngả vàng nhạt khi sắp nở.
  • Sâu non: Dạng dòi, không chân, trải qua 3 tuổi phân biệt rõ qua kích thước và cấu tạo móc miệng:
    • Tuổi 1: Dài $1,95 - 2,02\text{ mm}$, rộng $0,41 - 0,47\text{ mm}$, khối lượng $0,63 - 0,65\text{ mg}$; móc miệng màu nâu đỏ mềm, có 3 răng trước mềm; chưa có lỗ thở trước.
    • Tuổi 2: Dài $3,94 - 3,98\text{ mm}$, rộng $1,06 - 1,12\text{ mm}$, khối lượng $1,64 - 1,85\text{ mg}$; móc miệng nửa nâu nửa đen với 3 gai cứng.
    • Tuổi 3: Dài $7,86 - 7,90\text{ mm}$, rộng $1,96 - 2,05\text{ mm}$, khối lượng $15,52 - 16,00\text{ mg}$; móc miệng màu đen cứng chỉ còn 2 gai ngoài. Khi đẫy sức, dòi cong mình búng nhảy ra khỏi thức ăn để tìm nơi hóa nhộng.
  • Nhộng: Nhộng bọc, hình trứng dài, kích thước dài $4,32 - 4,80\text{ mm}$, rộng $1,96 - 2,04\text{ mm}$, khối lượng nhộng đực $11,09 - 11,57\text{ mg}$, nhộng cái $11,57 - 12,36\text{ mg}$. Màu sắc biến đổi từ vàng sáng sang vàng nâu và nâu sẫm trước khi vũ hóa.
  • Trưởng thành: Chiều dài cơ thể con đực $5,96 - 6,04\text{ mm}$, sải cánh $12,11 - 12,37\text{ mm}$, khối lượng $9,75 - 10,02\text{ mg}$. Con cái có kích thước lớn hơn: chiều dài $6,60 - 6,81\text{ mm}$, sải cánh $12,53 - 12,73\text{ mm}$, khối lượng $10,62 - 11,14\text{ mg}$. Nhận diện đặc trưng: mặt có 2 đốm đen nối thành băng ngang; ngực có các sọc biên và thùy màu vàng; mặt lưng đốt bụng III-V có băng đen hình chữ "T"; ống đẻ trứng con cái ngắn (~1 mm).
Pha phát dục Chiều dài TB (mm) Chiều rộng TB (mm) Khối lượng TB (mg) Đặc điểm nhận dạng
Trứng 1,10 0,15 - Hình quả dưa chuột, trắng trong sang vàng nhạt
Sâu non tuổi 1 1,95 - 2,02 0,41 - 0,47 0,63 - 0,65 Móc miệng mềm, 3 răng mềm, chưa có lỗ thở trước
Sâu non tuổi 2 3,94 - 3,98 1,06 - 1,12 1,64 - 1,85 Móc miệng nửa nâu nửa đen, 3 gai cứng
Sâu non tuổi 3 7,86 - 7,90 1,96 - 2,05 15,52 - 16,00 Móc miệng hóa sừng đen, chỉ còn 2 gai ngoài
Nhộng 4,32 - 4,80 1,96 - 2,04 11,09 - 12,36 Nhộng bọc, màu vàng nâu đến nâu sẫm
Trưởng thành đực 5,96 - 6,04 Sải cánh: 12,11 - 12,37 9,75 - 10,02 Có hàng lông dạng lược ở mép đốt bụng III
Trưởng thành cái 6,60 - 6,81 Sải cánh: 12,53 - 12,73 10,62 - 11,14 Có ống đẻ trứng nhọn sắc dài ~1 mm ở cuối bụng

2. Ảnh hưởng của các công thức thức ăn

  • Kích thước và khối lượng: Khi nuôi trên 4 loại thức ăn ở 25°C, kích thước dài x rộng của sâu non tuổi 1 và tuổi 2 không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Ở sâu non tuổi 2, khối lượng trên CT1 đạt cao nhất ($1,85 \pm 0,26\text{ mg}$), cao hơn có ý nghĩa so với CT3 ($1,64 \pm 0,18\text{ mg}$). Sâu non tuổi 3 và nhộng có sự sai khác nhẹ về chiều rộng và chiều dài nhộng (nhộng CT1 dài nhất: $4,80\text{ mm}$, CT3 ngắn nhất: $4,32\text{ mm}$).
  • Vòng đời: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 4 công thức thức ăn: CT1 là 35,4 ngày; CT2 là 36,6 ngày; CT3 là 36,0 ngày; CT4 (thức ăn ổi) là 35,6 ngày.

3. Tập tính và nhịp điệu đẻ trứng

  • Tập tính lựa chọn thức ăn: Trong thí nghiệm có sự lựa chọn, trưởng thành cái đẻ trứng nhiều nhất vào đĩa thức ăn Công thức 2 (giảm 33,34% nấm men và đường so với công thức chuẩn).
  • Nhịp điệu đẻ trứng trong ngày: Quan sát từ 6h00 đến 20h00 ghi nhận ruồi cái đẻ rải rác trong suốt thời gian có ánh sáng, tuy nhiên đỉnh cao đẻ trứng tập trung mạnh nhất vào khung giờ từ 10h00 đến 12h00 trưa.

4. Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ thể hiện ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh học của B. correcta:

  • Vòng đời: Ở nhiệt độ 25°C, vòng đời trung bình kéo dài 35,4 ngày; khi tăng lên 30°C, vòng đời rút ngắn có ý nghĩa xuống còn 29,6 ngày (giảm 5,8 ngày).
  • Sức sinh sản: Trưởng thành cái nuôi ở 30°C có sức đẻ trứng trung bình đạt $350,4\text{ quả/con cái}$, cao hơn đáng kể so với nuôi ở 25°C ($286,2\text{ quả/con cái}$).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Xác định đầy đủ các thông số kích thước, khối lượng và đặc điểm hình thái của 4 pha phát dục loài Bactrocera correcta phân lập tại Gia Lâm, Hà Nội.
  2. Chứng minh các mức dinh dưỡng nấm men bia và đường khác nhau (giảm từ 33,34% đến 50%) và thức ăn ổi xay tự nhiên không làm thay đổi đáng kể tổng thời gian vòng đời của ruồi (dao động trong khoảng 35,4 - 36,6 ngày ở 25°C).
  3. Chứng minh nhiệt độ môi trường là nhân tố quyết định tốc độ phát dục và sức sinh sản: nâng nhiệt độ từ 25°C lên 30°C giúp rút ngắn thời gian vòng đời từ 35,4 ngày xuống 29,6 ngày, đồng thời tăng sản lượng trứng từ 286,2 lên 350,4 quả/con cái.
  4. Phát hiện khung giờ đẻ trứng tập trung cao điểm nhất trong ngày của ruồi là từ 10h00 đến 12h00 và thức ăn CT2 có sức hấp dẫn đẻ trứng cao nhất.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Tối ưu hóa chi phí nhân nuôi: Đề xuất áp dụng công thức thức ăn CT2 (giảm 33,34% lượng nấm men bia và đường trắng) trong quy trình nhân nuôi sinh khối sâu non B. correcta trong phòng thí nghiệm. Việc này giúp tiết kiệm đáng kể chi phí hóa chất dinh dưỡng đắt tiền mà vẫn đảm bảo đầy đủ các chỉ tiêu sinh học, khối lượng cơ thể và sức hấp dẫn ruồi cái đẻ trứng.
  • Tối ưu hóa điều kiện nuôi: Duy trì ngưỡng nhiệt độ phòng nuôi ở mức 30°C và thu trứng trong khung giờ 10h - 12h để đạt năng suất trứng tối đa, phục vụ cung cấp nguồn thức ăn cho nhân nuôi thiên địch (nhện bắt mồi họ Phytoseiidae) hoặc phục vụ chương trình xử lý vô sinh côn trùng (SIT).

Đóng góp học thuật

Khóa luận bổ sung các dẫn liệu thực nghiệm chi tiết và cập nhật về sinh học, sinh thái học của quần thể ruồi đục quả Bactrocera correcta tại miền Bắc Việt Nam trên các môi trường dinh dưỡng bán nhân tạo chuẩn hóa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Thí nghiệm sinh thái mới chỉ khảo sát trên 2 mức nhiệt độ tĩnh (25°C và 30°C) và 4 công thức thức ăn trong điều kiện phòng thí nghiệm kín định ôn, chưa đánh giá tác động của dải nhiệt độ rộng hơn (dưới 20°C hoặc trên 33°C) cũng như sự dao động nhiệt độ tự nhiên ngoài đồng ruộng.
  • Nghiên cứu chưa đi sâu phân tích biến động chi tiết của tỷ lệ sống sót qua từng ngày tuổi cụ thể ở pha sâu non trên quy mô quần thể lớn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Thử nghiệm nhân nuôi Bactrocera correcta hàng loạt (mass rearing) trên quy mô lớn bằng công thức thức ăn CT2 để đánh giá tính ổn định qua nhiều thế hệ liên tiếp.
  • Nghiên cứu khả năng thích ứng, khả năng bay và sức cạnh tranh giao phối của ruồi nhân nuôi nhân tạo khi thả ra ngoài môi trường tự nhiên trong các chương trình SIT.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thu nhận và bảo quản trứng ruồi B. correcta với số lượng lớn làm thức ăn nhân nuôi thương mại các loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trong kiểm soát sinh học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Côn trùng học ứng dụng, Nông học và Sinh thái học nông nghiệp.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Quy trình kỹ thuật phối chế thức ăn nhân tạo (định lượng cụ thể nấm men, đường, chất chống nấm nipagin, sodium benzoate, axit citric, dầu mầm lúa mạch).
    • Phương pháp bố trí thí nghiệm đánh giá tập tính lựa chọn/không lựa chọn thức ăn và kỹ thuật theo dõi nhịp điệu đẻ trứng theo các khung giờ sinh học.
    • Bộ số liệu kích thước, khối lượng chi tiết của từng tuổi sâu non phục vụ công tác giám định loài và kiểm dịch thực vật.

Câu hỏi thường gặp

1. Loài ruồi đục quả Bactrocera correcta trải qua các pha phát dục nào và thời gian vòng đời ở các mức nhiệt độ thí nghiệm là bao nhiêu?

Bactrocera correcta trải qua 4 pha phát dục: trứng, sâu non (3 tuổi), nhộng và trưởng thành. Ở điều kiện nhiệt độ 25°C, vòng đời trung bình của ruồi là 35,4 ngày; khi nuôi ở nhiệt độ 30°C, vòng đời rút ngắn xuống còn 29,6 ngày.

2. Thành phần và tỷ lệ dinh dưỡng của công thức thức ăn nhân tạo tối ưu (CT2) được thiết lập như thế nào?

Công thức 2 được pha chế trong 1000 ml nước cất gồm: 136 g nấm men bia, 81,03 g đường trắng (giảm 33,34% so với công thức chuẩn), 2 ml dầu mầm lúa mạch, 10 g bột agar cùng các chất bảo quản chống thối (nipagin, sodium benzoate, citric acid).

3. Yếu tố thức ăn có làm thay đổi kích thước và vòng đời của ruồi B. correcta không?

Khi nuôi trên 4 công thức thức ăn khác nhau ở 25°C, vòng đời của ruồi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (dao động từ 35,4 đến 36,6 ngày). Kích thước chiều dài, chiều rộng sâu non tuổi 1, tuổi 2 và trưởng thành giữa các công thức thức ăn tương đương nhau, chỉ có sự khác biệt nhỏ ở khối lượng sâu non tuổi 2 và chiều dài nhộng.

4. Khung giờ nào trong ngày trưởng thành cái B. correcta đẻ trứng nhiều nhất?

Kết quả theo dõi nhịp điệu sinh sản từ 6h00 đến 20h00 ghi nhận trưởng thành cái đẻ trứng tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ 10h00 đến 12h00 trưa.

5. Sức đẻ trứng của ruồi cái ở nhiệt độ 30°C thay đổi ra sao so với ở 25°C?

Sức sinh sản của ruồi trưởng thành cái có sự khác biệt rõ rệt theo nhiệt độ: ở 25°C ruồi cái đẻ trung bình 286,2 quả trứng/cá thể, trong khi ở nhiệt độ 30°C sức sinh sản tăng lên đạt trung bình 350,4 quả trứng/cá thể.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Sơn đã xác định toàn diện các đặc điểm hình thái, sinh vật học và sinh thái học của loài ruồi đục quả Bactrocera correcta tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2021. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc cắt giảm 33,34% nấm men và đường trong thức ăn nhân tạo (CT2) vẫn đảm bảo tối ưu các chỉ tiêu sinh học và khả năng đẻ trứng của ruồi, đồng thời nhiệt độ 30°C giúp rút ngắn vòng đời xuống 29,6 ngày và nâng cao sức sinh sản đạt 350,4 trứng/con cái. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và quy trình thực nghiệm quan trọng cho việc nhân nuôi sinh khối loài ruồi này phục vụ công tác quản lý dịch hại và nhân nuôi thiên địch tại Việt Nam.