Đặt vấn đề Ớt (Capsicum sp.) là cây gia vị trồng ở vùng nhiệt đới, được tiêu thụ trên khắp thế giới do có giá trị kinh tế cao. Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho cây tăng trưởng là 18 – 30°C, nhiệt độ trên 32°C và thấp dưới 15°C, cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngắn ngày các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa của Việt Nam thích hợp cho cây ớt sinh trưởng và phát triển.
Tuy nhiên, dịch bệnh do nấm, virus và vi khuẩn gây ra trên cây ớt là một vấn đề gây trở ngại lớn đến hiệu quả sản xuất. Trong các loại bệnh trên ớt, bệnh do nấm là các bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng và làm tổn thất từ 10 - 80% sản lượng ớt ở Việt Nam và các nước trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc. Các loại bệnh nấm thường gặp trên cây ớt là bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani), bệnh thán thư (Colletotrichum spp.), bệnh mốc xám (Botrytis cinerea), bệnh héo vàng lá (Fusarium oxysporum), bệnh sương mai (Phythopthora capsici), trong đó bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp. gây ra là bệnh phổ biến và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất đối với cây ớt.
Bệnh thán thư trên cây ớt do nấm Colletotrichum spp. gây ra, nấm gây hại trên cả cành, lá, hoa và trái, có thể gây thiệt hại làm giảm năng suất 70 - 80%. Hiện nay, nhiều loại thuốc hóa học được sử dụng để phòng trừ các loại nấm gây hại cho cây trồng, tuy nhiên việc sử dụng với liều lượng cao trong thời gian dài đã làm mất cân bằng quần thể vi sinh vật có ích trong đất, tạo điều kiện để nấm bệnh và các loài côn trùng có hại cho cây trồng trở nên kháng thuốc. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm nông nghiệp và đất đã làm ô nhiễm nguồn nước ngầm, môi trường và gây tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe con người và vật nuôi.
Biện pháp trồng giống chống chịu bệnh bị hạn chế do năng 1 suất và độ ổn định giống không cao. Biện pháp sinh học sử dụng chất kích kháng thực vật giúp kích hoạt các cơ chế đề kháng bệnh trong cây trồng là một xu hướng phát triển nông nghiệp xanh đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới với mục đích giảm thiểu tối đa việc sử dụng các hóa chất độc hại và sử dụng giống chuyển gen. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất và được sự đồng ý của khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, bộ môn Bệnh cây và dưới sự hướng dẫn của TS.Trần Nguyễn Hà, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh thán thư hại ớt tại khu vực Hà Nội và vùng phụ cận”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Xác định thành phần, mức độ phổ biến của bệnh hại ớt ở khu vực Hà Nội và vùng phụ cận vụ xuân hè năm 2021. Điều tra diễn biến bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) trên một số giống ớt và khảo sát hiệu lực của vi sinh vật đối kháng phòng trừ nấm gây bệnh. Yêu cầu - Điều tra xác định thành phần, mức độ phát sinh gây hại của bệnh hại ớt vụ xuân hè năm 2021. - Điều tra diễn biến bệnh thán thư trên một số giống ớt ở khu vực Hà Nội và vùng phụ cận.
- Phân ly nuôi cấy, nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của nấm Colletotrichum gloeosporioides. - Nghiên cứu tính gây bệnh của các Isolate Colletotrichum gloeosporioides gây hại trên một số giống ớt lây nhiễm trên quả tươi trong phòng thí nghiệm. - Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride và vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis với các Isolate Colletotrichum gloeosporioides trên môi trường nhân tạo PGA. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Những nghiên cứu ngoài nước 2. Nghiên cứu về thành phần bệnh nấm hại ớt Theo nghiên cứu của Ken Pernezny & Tim Momol (2006) nguyên nhân gây bệnh cho ớt bao gồm nấm, vi khuẩn và virus. Bệnh nấm trên cây ớt gồm: Bệnh thán thư, bệnh đốm lá, bệnh mốc xám, bệnh mốc trắng, bệnh sương mai, bệnh phấn trắng. Zitter (1989), bệnh sương mai xuất hiện rải rác tại New York khoảng 40 năm về đây và gây thiệt hại nặng ở Floria, New Mixico, California và New Jersey.
Bệnh héo Fusarium là một bệnh nấm gây hại trên cà chua, khoai tây, cây họ cà và cây ớt, bệnh được tìm thấy ở khắp nơi của nước Mỹ. Nấm bệnh (Fusarium oxysporum) xâm nhiễm qua rễ vào cây và phát triển trong cây cản trở sự vận chuyển nước trong cây làm lá bị héo vàng. Triệu chứng của bệnh thường xuất hiện muộn. Triệu chứng các lá già bị rụng, lây nhiễm nấm sang các lá non sau đó cây bị chết.
(2006) Bệnh đốm trắng lá do nấm Cercospora capsici gây ra. Bệnh tạo ra các vết hình tròn thô giáp, ban đầu có màu nâu vàng nhạt đến trắng và có viền màu nâu đen, nhiễm nặng có thể gây ra hiện tượng rụng lá, nghiêm trọng sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng. Bệnh đốm xám lá do nấm Stemphylium solani gây hại trên lá, thân, cuống lá và cuống quả nhưng không gây hại trên quả và hoa. Triệu chứng của bệnh là những vết đốm màu nâu sau đó chuyển màu trắng ở giữa vết bệnh, vết đốm trên lá có dạng gần giống hình tròn với tổn thương bị lõm ở giữa vết bệnh và viền bệnh có màu nâu tới đỏ.Bệnh chết rạp cây con do nấm Pythium spp.
hoặc nấm Rhizoctonia solani gây bệnh, cây con khi bị bệnh sẽ xuất hiện vết chết hoại ở lá mầm và cổ rễ làm cây con đổ gập và chết. Bệnh chết rạp do nấm Pythium spp. gây hại khá phổ biến ở Nam Florida gây chết cây con ngay từ đầu vụ. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii): Bệnh gây hại trong điều kiện thời tiết ấm và ẩm ướt.
Cây 3 trồng bị nhiễm bệnh thường bị héo do rễ và thân bị chết. Trong điều kiện thời tiết có ẩm độ cao, sợi nấm trắng xuất hiện trên thân ở vị trí tiếp giáp với mặt đất. Nhiều hạch nấm nhỏ xuất hiện trên hệ sợi nấm, ban đầu hạch nấm có màu trắng sau chuyển sang màu nâu. Trong điều kiện thời tiết mát mẻ, mùa đông ẩm ướt, ớt dễ bị bệnh thối hạch do nấm Sclerotinia sclertiorum tấn công.
Nấm thường xâm nhiễm lên thân từ phần thân, cuống lá và đôi khi trên cả quả khi các bộ phận này tiếp xúc với bề mặt đất. Sự lây nhiẽm xung quanh thân thường là nguyên nhân làm cây héo và chết (Ken P. Nghiên cứu về các loài nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư ớt trên thế giới Bệnh thán thư ớt được Halsted báo cáo lần đầu tiên tại New Jersey, USA vào năm 1890, Halsted đã mô tả tác nhân gây bệnh là Gloeosporium piperatum và C.
Bệnh thán thư hại ớt được nghiên cứu là do các loài nấm Colletotrichum gây ra bao gồm nấm C.acutatum (Simmonds), Colletotrichum capsici (Syd) Butler & Bisby, Colletotrichum gloeosporioides (Penz) Penz & Sacc. Tại Đài Loan các loài nấm C. gloeosporioides, Glomerella cingulata gây hại trên quả ớt chín, trong đó 2 loài phổ biến là C. gloeosporioides (Kim & cs.
Nấm Colletotrichum spp. có phổ kí chủ rất rộng nên chúng có thể qua đông trên các cây kí chủ khác nhau như cây họ cà, cây họ đậu, dâu tây, hành tây, chuối, xoài,… thậm chí tàn dư thực vật trên đồng ruộng và các loại quả bị bỏ lại trên cánh đồng (Pring & cs. (2004) cho rằng, các loài khác nhau gây bệnh ở những bộ phận khác nhau của cây ớt: Ví dụ, nấm C.acutatum và Colletotrichum gloeosporioides xâm nhiễm vào quả ớt tất cả các giai đoạn phát triển, nhưng thường không gây hại trên thân và lá, trong khi lá và thân bị nấm C. dentium gây hại mạnh.coccodes gây bệnh thán 4 thư trên lá cây ớt con được trồng trên ruộng lần đầu tiên được Hong & Hwang báo cáo ở tỉnh Chungnam Hàn Quốc vào năm 1988.
Theo Hong & Hwang năm 1998 và Kim & cs. vào năm 1999 các loài Colletotrichum khác nhau cũng thể hiện vai trò quan trọng khác nhau trong các giai đoạn quả chín khác nhau. Ví dụ, nấm Colletotrichum capsici phổ biến trên quả ớt đỏ, nhưng ngược lại nấm C. acutatum và Colletotrichum gloeosporioides được xem là phổ biến trên cả quả xanh non và quả chín.
coccodes gây bệnh thán thư không được xem là bệnh nguy hiểm trên quả ớt. Nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học Kasetsart Kamphaeng Saen Campus, Nakhom Pathom, Thái Lan (2007) đã xác định 5 loài trong chi Colletotrichum gây bệnh thán thư ớt là: C. coccodes, Colletotrichum gloeosporioides, Colletotrichum capsici, C. Theo Poonpolgul & Kumphai (2007), bệnh thán thư ớt do nấm Colletotrichum spp.
gây ra là một trong những bệnh có ý nghĩa kinh tế quan trọng nhất, làm giảm năng suất từ 10% đến 80% ở một số quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Thái Lan. Nghiên cứu của Than & cs. (2008) đã xác định được 5 loài trong chi Colletotrichum spp. gây bệnh loét trên ớt là: C.
Montri (2009), tại Thái Lan bệnh thán thư ớt gây hại năng suất lên tới 80%, tác giả kết luận tác nhân quan trọng nhất là C. capsici, mặc dù loài C. acucatum phần lớn bị ức chế ở phía Bắc và Đông Bắc Thái Lan. (2016), bệnh thán thư trở thành một mối đe dọa đáng kể đối với ớt Capsicum annuum được trồng tại cao nguyên Cameron, bang Pahang, Malaysia.
Vào tháng 5 năm 2013, các vết lõm, tròn và khô được quan sát trên vỏ quả ớt, sau các vết này chuyển màu nâu và quả bị chết khô trên cây. Tỉ lệ mặc bệnh lên tới 60% ở các vùng trồng ớt bị nhiễm nặng. Cũng theo 5 báo cáo này, đây là lần đầu tiên bệnh thán thư ớt được xác định do C. nymphaeae gây ra ở Malaysia và trên thế giới.
Theo Suwanna & cs. (2017), tại Thái Lan xác định được 4 loài Colletotrichum gây bệnh thán thư ớt C. de Almeida (2017), với các triệu chứng điển hình của bệnh thán thư trên quả ớt vàng thuộc loài Capsicum chinense L. được quan sát tại thành phố Manaus năm 2008 và Manacapuru vào năm 2014, ở bang Amazonas, Brazil.
Triệu chứng ban đầu là các vết lõm màu nâu sẫm, hơi ẩm và các vết tròn đồng tâm. Tổn thất lên tới 100% xảy ra ở một số đồn điền. Nguyên nhân được xác định là do nấm C. Bệnh thán thư ớt gây ra bởi C.
truncatum trên ớt chuông là một vấn đề quan trọng trong sản xuất và sau thu hoạch ở Pakistan làm giảm đáng kể năng suất.