Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thừa Thiên Huế sở hữu đường bờ biển dài hơn 127 km cùng hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có diện tích mặt nước rộng lớn, tạo nên môi trường sống đặc thù cho nhiều loài thủy hải sản nhiệt đới. Trong đó, cá Ong căng (Terapon jarbua Forsskål, 1775) thuộc họ cá Căng (Teraponidae), bộ cá Vược (Perciformes), là loài cá có nguồn gốc từ biển, thường xuyên di nhập vào vùng đầm phá, cửa sông ven biển. Loài cá này có khả năng thích ứng cao, đề kháng tốt, thịt thơm ngon và mang lại giá trị thương phẩm cao.

Tuy nhiên, nguồn lợi cá Ong căng tự nhiên tại vùng ven biển Thừa Thiên Huế đang đối mặt với nguy cơ suy giảm do áp lực khai thác quá mức và sự suy thoái sinh cảnh ven bờ. Nghề nuôi cá Ong căng thương phẩm chưa thể phát triển bền vững do phụ thuộc hoàn toàn vào con giống đánh bắt tự nhiên vốn bấp bênh và biến động theo mùa vụ. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khoa học trong nước về cá Ong căng chủ yếu dừng lại ở việc điều tra thành phần loài, mô tả hình thái và bước đầu khảo sát một số chỉ tiêu sinh học sơ lược; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về tập tính dinh dưỡng, chu kỳ phát triển tuyến sinh dục và thực nghiệm sinh sản nhân tạo nhằm chủ động sản xuất con giống. Việc thực hiện đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng ven biển Thừa Thiên Huế" giải quyết trực tiếp khoảng trống khoa học và công nghệ này.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án được xác định gồm hai nhóm nhiệm vụ chính:

  1. Xác định và làm rõ các đặc tính sinh học cơ bản của quần thể cá Ong căng tại vùng ven biển và đầm phá Thừa Thiên Huế, bao gồm đặc điểm hình thái, quy luật sinh trưởng, đặc điểm dinh dưỡng và chu kỳ sinh sản.
  2. Thăm dò khả năng nhân giống nhân tạo cá Ong căng; thử nghiệm các loại kích dục tố và liều lượng thích hợp để kích thích cá sinh sản; theo dõi sự phát triển phôi và xác định các thông số kỹ thuật tối ưu trong quá trình ương nuôi từ giai đoạn cá bột lên cá giống, từ đó xây dựng quy trình công nghệ nhân giống cá Ong căng.

Nội dung nghiên cứu bao gồm:

  • Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học: quy luật tăng trưởng chiều dài - khối lượng, cấu trúc nhóm tuổi, phổ thức ăn, biến động độ no, hệ số béo và các giai đoạn chín muồi sinh dục của tuyến sinh dục.
  • Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ bằng các chế độ dinh dưỡng khác nhau; khảo sát tác động của kích dục tố LRH-A3 (+ Domperidone) và HCG đối với tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và sự phát triển phôi.
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trong các giai đoạn ương từ cá bột lên cá hương và từ cá hương lên cá giống.
  • Xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá Ong căng phục vụ nghề nuôi thủy sản lợ mặn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cá Ong căng (Terapon jarbua Forsskål, 1775).
  • Phạm vi không gian: Vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế (phạm vi đánh bắt cách bờ dưới 3 km, độ sâu trung bình khoảng 20 m), bao gồm 11 trạm/điểm thu mẫu đại diện: cửa sông Ô Lâu (Quảng Thái), thị trấn Thuận An, đầm Thủy Tú (Vinh Thanh), cửa sông Truồi (Lộc An), cửa Tư Hiền, vụng An Cư (Lăng Cô), xã Quảng Lợi, xã Hoà Duân, xã Vinh Hưng, xã Lộc Bình và vùng biển Lăng Cô.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 05/2015 đến tháng 12/2017; trong đó công tác điều tra thực địa và thu mẫu định kỳ diễn ra liên tục từ tháng 09/2015 đến tháng 08/2017 với tổng số 720 cá thể cá mẫu được thu thập và phân tích.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Họ cá Căng (Teraponidae) trên thế giới gồm khoảng 16 giống với 52 loài, phân bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới ven bờ Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương (Dahanukar N., 2011). Về mặt định loại học, loài cá Ong căng được Forsskål mô tả lần đầu tiên vào năm 1775 dưới danh pháp Sciaena jarbua tại vùng Biển Đỏ, sau đó được xếp vào giống Terapon với nhiều danh pháp đồng vật như Holocentrus jarbua, Terapon servus, Therapon farna. Đặc điểm hình thái chi tiết được Day (1878), Talwar và Jhingran (1991) mô tả chuẩn hóa với đặc trưng 3 sọc vòng cung đồng tâm màu xám đen ở lưng và gai vây lưng nhọn.

Về tập tính dinh dưỡng và sinh trưởng:

  • Lieske và Myers (1994), Das và cộng sự ghi nhận cá Ong căng ăn tạp thiên về động vật (cá nhỏ, tảo, động vật không xương sống).
  • Whitefield và Blaber (1978), Thangaraja và Ramamoorthi (1983), Basheedruddin và Nayar (1961) phân tích ruột ấu trùng và cá con, chứng minh phổ thức ăn thay đổi theo lứa tuổi, trong đó ấu trùng ăn chủ yếu động vật phù du (Zooplankton, Copepoda, Amphipoda), cá lớn có phổ dinh dưỡng rộng hơn nhờ cấu trúc hàm phát triển. Manoharan và cộng sự (2012) tại ven biển Parangipettai (Ấn Độ) phân tích sự sai khác thức ăn giữa cá đực và cá cái.
  • Tương quan chiều dài - khối lượng được nghiên cứu bởi nhiều tác giả: Lavergne E. (2013) tại vịnh Aden; Nandikeswari và cộng sự (2013, 2014, 2017) tại vùng biển Puducherry (Ấn Độ); Nuengruetai Y. (2017) tại Thái Lan; các nghiên cứu đều chỉ ra phương trình tương quan dạng hàm mũ $W = a \cdot L^b$ với hệ số $b$ biến thiên từ 2,79 đến 3,37.
  • Về sinh học sinh sản: Prabhu M. (1955) ghi nhận cá đẻ trứng một lần/năm vào mùa xuân ở biển. Miu Tsu-Chan và cộng sự (1990) nghiên cứu tại cửa sông Tamshui (Đài Loan) ghi nhận mùa sinh sản kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, tỷ lệ đực/cái 1:1,8, sức sinh sản tuyệt đối từ 37.400 đến 346.000 trứng. Nandikeswari R. (2015, 2016) công bố hệ số thành thục GSI đạt cực đại vào tháng 4 và tháng 7 tại vùng biển Pondicherry.
  • Về sinh sản nhân tạo: Koushik R. (2016) tại Ấn Độ đã thử nghiệm tiêm LHRHa với liều 75 µg/kg cá cái và 37,5 µg/kg cá đực, thời gian hiệu ứng 36 giờ.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, họ cá Căng có 8 loài thuộc 4 giống. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào điều tra khu hệ cá:

  • Nguyễn Thị Phi Loan (2008) tại đầm Ô Loan; Võ Văn Phú và Trần Thụy Cẩm Hà (2008) tại sông Bù Lu; Vũ Thị Phương Anh (2011), Nguyễn Thị Tường Vi và cộng sự (2014) tại sông Thu Bồn; Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Hữu Dực (2012) tại phá Tam Giang – Cầu Hai (thống kê 5 loài họ cá Căng); Tống Xuân Tám (2012, 2015) tại sông Sài Gòn và Cần Giờ; Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự (2013, 2015, 2017) tại cửa Ba Lạt, Soài Rạp, Cổ Chiên; Nguyễn Văn Quân và Nguyễn Thị Hương Liên (2014) tại rừng ngập mặn Phù Long; Trần Thị Hồng Hoa và cộng sự (2014) tại vịnh Vân Phong.
  • Về sinh học cá Ong căng: Võ Văn Phú và Biện Văn Quyền (2009) khảo sát sinh trưởng của cá tại Thừa Thiên Huế; Trần Trung Thành và cộng sự (2015) nghiên cứu phân bố ấu trùng cá con ở cửa sông miền Bắc; Lê Thị Nam Thuận (2001, 2015, 2016) công bố dẫn liệu về sức sinh sản và cấu trúc tế bào học tuyến sinh dục cá Ong căng tại Quảng Bình.
  • Về công nghệ sinh sản nhân tạo cá biển: Các nhóm nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (1998–2000), Nguyễn Tuần (2000, 2002), Lê Xân (2003, 2004), Đỗ Văn Minh (2003), Ngô Trọng Lư (2004), Lê Quốc Việt (2010), Lý Văn Khánh (2012, 2013), Nguyễn Anh Tuấn (2014) đã thành công trên các đối tượng như cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Giò (Rachycentron canadum), cá Mú (Epinephelus coioides), cá Đối (Liza subviridis), cá Nâu (Scatophagus argus), cá Chốt trắng (Mystus planiceps).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù đã có các nghiên cứu lẻ tẻ về hình thái và sự hiện diện của cá Ong căng trong các thủy vực, tại Việt Nam hoàn toàn chưa có một công trình nào nghiên cứu đồng bộ từ các thông số sinh học quần thể (sinh trưởng Von Bertalanffy, phổ thức ăn định lượng, mô học tuyến sinh dục theo mùa) cho đến thực nghiệm hoàn chỉnh quy trình nuôi vỗ bố mẹ, liều lượng kích dục tố kích thích sinh sản, ấp nở và kỹ thuật ương từ cá bột lên cá giống. Luận án này là công trình đầu tiên tại Việt Nam giải quyết trọn vẹn chuỗi dữ liệu khoa học và công nghệ nói trên đối với loài Terapon jarbua.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án áp dụng các nguyên lý sinh thái học cá biển, lý thuyết sinh trưởng quần học cá, lý thuyết dinh dưỡng thủy sản và nội tiết học sinh sản cá xương nhằm giải thích cơ chế tích lũy vật chất, chuyển hóa năng lượng cho phát dục và phản ứng sinh học của cá bố mẹ đối với các hợp chất kích dục tố ngoại sinh.

Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

  • Thu mẫu: Thu thập định kỳ hàng tháng với tổng số 720 mẫu cá tại 11 trạm nghiên cứu bằng cách kết hợp đi cùng tàu khai thác của ngư dân và thu mua tại các bến cá ven đầm phá, ven biển Thừa Thiên Huế.
  • Xử lý mẫu ban đầu: Mẫu cá tươi được cân khối lượng toàn thân ($W$), khối lượng bỏ nội quan ($W_0$) bằng cân tiểu ly chính xác; đo chiều dài tổng ($L$) và chiều dài chuẩn ($L_0$); bóc tách vẩy, giải phẫu ống tiêu hóa và tuyến sinh dục tại chỗ, sau đó bảo quản bằng dung dịch formol 4% hoặc cồn 70°.

Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

  • Đo đếm chỉ tiêu hình thái phân loại: Tiến hành theo quy chuẩn của Pravdin (1973), xác định các chỉ số $L_t$, $L_h$, $L_s$, $H_h$, $L_{cđ}$, $Dia_e$, $H_b$, $Dis_{2e}$ và công thức vây ($D_1, D_2, P, V, A, C$).
  • Xác định tuổi và sinh trưởng:
    • Tẩy sạch vẩy bằng dung dịch NaOH 4%, quan sát số lượng và bán kính vòng năm ($V_t, V$) dưới kính hiển vi có trắc vi thị kính.
    • Tốc độ tăng trưởng chiều dài hồi tính theo công thức Rosa Lee (1920): $$L_t = \frac{V_t}{V} (L - a) + a$$ Trong đó $a$ là chiều dài cá khi bắt đầu hình thành vẩy.
    • Tốc độ tăng trưởng hàng năm: $T_t = L_t - L_{t-1}$.
    • Thiết lập phương trình tương quan chiều dài – khối lượng Beverton – Holt (1956): $W = a \cdot L^b$.
    • Mô hình hóa sinh trưởng theo phương trình Von Bertalanffy (1952): $$L_t = L_\infty \left[1 - e^{-k(t - t_0)}\right]$$ $$W_t = W_\infty \left[1 - e^{-k(t - t_0)}\right]^b$$
  • Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng:
    • Phân tích thành phần thức ăn theo khóa phân loại của Shirota (1968), Trương Ngọc An (1993), Đặng Ngọc Thanh và Phạm Văn Miên (1981), Nguyễn Xuân Quýnh (2001).
    • Phân tích phổ dinh dưỡng theo phương pháp khối lượng của Biswas (1993).
    • Đánh giá cường độ bắt mồi qua 5 bậc độ no Lebedev (bậc 0: rỗng, bậc 1: ruột có thức ăn, bậc 2: ruột và dạ dày có thức ăn nhưng còn khoảng trống, bậc 3: chứa nhiều thức ăn, bậc 4: dạ dày căng đầy).
    • Tính hệ số béo Fulton ($Q = \frac{W}{L^3} \cdot 100$) và Clark ($Q_0 = \frac{W_0}{L^3} \cdot 100$).
  • Nghiên cứu hình thái và tổ chức học tuyến sinh dục:
    • Phân chia 6 giai đoạn chín muồi sinh dục theo thang bậc Kiselevits (1923) và Xakun & Buskaia (1968).
    • Sức sinh sản tuyệt đối $T = x \cdot w_t$ và sức sinh sản tương đối $t = \frac{T}{W}$ (với $x$ là số trứng/g buồng trứng, $w_t$ là khối lượng buồng trứng).
    • Làm tiêu bản mô học: Cố định mẫu bằng dung dịch Bouin (4–24 giờ), khử nước qua thang cồn tăng dần (50% đến 100%), ngâm dung môi xylen, đúc khối paraffin ở 57–60°C, cắt lát siêu mỏng, nhuộm Hematoxylin – Sắt (HS) cho tinh sào và Hematoxylin – Eosin (HE) cho buồng trứng; quan sát dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 40–1000 lần.

Phương pháp thực nghiệm nhân giống

  • Nuôi vỗ cá bố mẹ: Thực hiện tại bể composite ngoài trời thể tích 50 m³ (mức nước 1,3–1,5 m), mật độ 40 con/bể, tỷ lệ đực:cái là 1:1, thời gian nuôi 5 tháng. Thử nghiệm 2 nghiệm thức thức ăn: NT1 (50% cá tạp + 50% mực tươi) và NT2 (100% cá tạp), khẩu phần 2–5% khối lượng thân/ngày, bổ sung định kỳ 3 ngày/lần hỗn hợp Vitamin E, Vitamin C, premix khoáng và Bokashi trầu.
  • Kích thích sinh sản và ấp trứng:
    • Cá cái được tiêm 2 liều (liều sơ bộ 1/3, sau 7–8 giờ tiêm liều quyết định 2/3); cá đực tiêm 1 lần bằng 1/2 tổng liều cá cái cùng thời điểm liều quyết định.
    • Thuốc thử nghiệm: LRH-A3 (các mức liều 40, 70, 100 µg/kg cá cái kết hợp 3 mg DOM/kg) và HCG (các mức liều 250, 500, 750 IU/kg cá cái).
    • Cho đẻ tự nhiên trong bể composite tròn 0,5–1 m³, độ mặn 29–30‰, nhiệt độ 28–31°C, pH 7,5–8,5, hàm lượng oxy hòa tan DO > 5 mg/l.
    • Ấp trứng trong bể composite 500–1000 lít, độ mặn 29–30‰, nhiệt độ 28–29°C, sục khí nhẹ liên tục.
  • Thí nghiệm ương cá bột lên cá hương (15 ngày đầu):
    • Khảo sát thức ăn (4 nghiệm thức): NT1 (Tảo Nannochloropsis oculata + luân trùng Brachionus rotundiformis), NT2 (Tảo N. oculata + Nauplius Artemia), NT3 (Tảo N. oculata + thức ăn công nghiệp Grobest), NT4 (100% thức ăn công nghiệp Grobest).
    • Khảo sát độ mặn (3 nghiệm thức): 20‰, 25‰, 30‰; mật độ ương 40 con/lít trong bể 500 lít, sục khí 24/24h.
  • Thí nghiệm ương cá hương lên cá giống (15 đến 40 ngày tuổi): Khảo sát ảnh hưởng của các mức độ mặn và các khẩu phần thức ăn khác nhau đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các tư liệu khoa học về họ cá Căng (Teraponidae) và loài cá Ong căng (Terapon jarbua) trên thế giới và tại Việt Nam. Nội dung nêu bật vị trí phân loại, các đặc điểm hình thái thích nghi, tính rộng muối của loài (sống được từ biển khơi đến vùng đầm phá nước lợ và cửa sông nước ngọt).

Bên cạnh đó, chương 1 phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế:

  • Địa hình và khí hậu: Chế độ nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm vùng đồng bằng 24–25°C, mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 (chiếm 70–80% lượng mưa cả năm), lượng mưa trung bình vượt 2.600 mm/năm.
  • Thủy văn đầm phá: Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai nhận nước từ Biển Đông qua 2 cửa Thuận An và Tư Hiền theo chế độ bán nhật triều, kết hợp nguồn nước ngọt từ các con sông lớn nhỏ đổ vào với lưu lượng hàng năm gần 6 km³ nước và 620.000 tấn phù sa. Nồng độ muối dao động rất rộng và phân tầng phức tạp từ 0,1‰ đến 35‰, pH dao động từ 6,5 đến 8,2.
  • Bối cảnh kinh tế - xã hội: Phân tích số liệu thống kê giai đoạn 2012–2016 về cơ cấu lao động ngành thủy sản (chiếm 28,8% lao động toàn tỉnh năm 2016), sự chuyển biến từ nuôi quảng canh sang bán thâm canh (diện tích bán thâm canh tăng từ 1.300,9 ha năm 2012 lên 3.266,0 ha năm 2016), tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 45.405 tấn năm 2016, chứng minh nhu cầu cấp thiết về con giống phục vụ nghề nuôi đầm phá.
+-----------------------------------------------------------------------+
| DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG THỦY SẢN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ (2012 - 2016)   |
+-----------------------------------------------------------------------+
Chỉ tiêu thống kê 2012 2013 2014 2015 2016
Tổng diện tích nuôi (ha) 5.754,4 7.184,5 7.513,2 7.235,1 7.175,0
- Diện tích nuôi tôm (ha) 3.669,3 3.076,1 2.914,8 3.041,0 2.992,0
- Diện tích nuôi cá (ha) 1.936,4 3.144,7 3.592,3 3.267,0 3.241,5
- Nuôi bán thâm canh (ha) 1.300,9 3.291,4 3.965,2 3.387,2 3.266,0
- Nuôi nước lợ và mặn (ha) 3.844,6 5.116,9 5.316,6 5.152,7 5.108,0
Tổng sản lượng thủy sản (tấn) 40.642 47.593 50.807 54.300 45.405
- Sản lượng khai thác (tấn) 30.750 34.384 35.892 39.157 31.394
- Nuôi trồng nước lợ, mặn (tấn) 5.433 6.767 8.445 8.384 6.963

Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu Terapon jarbua, hệ thống 11 trạm thu mẫu tự nhiên tại Thừa Thiên Huế (phân bố từ cửa sông Ô Lâu đến vụng biển Lăng Cô), kế hoạch thu mẫu (720 cá thể qua các đợt thu từ tháng 09/2015 đến 08/2017). Mô tả hệ thống phòng thí nghiệm tại Đại học Huế và cơ sở thực nghiệm tại Trại sản xuất giống Huy Sơn, Trung tâm Thực hành NTTS Phú Thuận. Chi tiết hóa toàn bộ các công thức toán học sinh học thủy sản, phương pháp làm tiêu bản mô học cắt nhuộm HE/HS, các thiết kế thí nghiệm nuôi vỗ bố mẹ, các công thức kích dục tố (LRH-A3 + DOM, HCG), cùng thiết kế thí nghiệm ương cá qua 2 giai đoạn với các yếu tố thức ăn và độ mặn.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng và thực nghiệm gồm 3 hợp phần chính:

  1. Đặc điểm sinh học của cá Ong căng:

    • Đặc điểm sinh trưởng: Phân tích cấu trúc tuổi (quần thể gồm các nhóm tuổi từ 0+ đến 3+ và 4+), tốc độ tăng trưởng chiều dài hồi tính ($L_1, L_2, L_3, L_4$), xây dựng tương quan $W = a \cdot L^b$ và xác định các tham số mô hình Von Bertalanffy ($L_\infty, W_\infty, k, t_0$). Kết quả chứng minh giai đoạn đầu cá lớn nhanh về chiều dài, giai đoạn sau tích lũy mạnh về khối lượng.
    • Đặc điểm dinh dưỡng: Xác định thành phần thức ăn trong dạ dày gồm giáp xác, cá nhỏ, nhuyễn thể, giun nhiều tơ và tảo. Phổ thức ăn mở rộng dần theo kích thước cá thể. Biến động độ no theo tháng, theo mùa và theo giai đoạn thành thục sinh dục (độ no giảm khi tuyến sinh dục đạt giai đoạn IV–V). Xác định hệ số béo Fulton và Clark theo nhóm tuổi.
    • Đặc điểm sinh sản: Mô tả chi tiết 4 thời kỳ phát triển của tế bào trứng (tổng hợp nhân, sinh trưởng sinh chất, không bào hóa, chín) và cấu trúc lát cắt buồng trứng, tinh sào qua 6 giai đoạn chín muồi sinh dục (GĐ I đến GĐ VI). Tính toán sức sinh sản tuyệt đối và tương đối, phân tích biến động chỉ số thành thục GSI, chứng minh mùa sinh sản chính của cá Ong căng tại Thừa Thiên Huế tập trung vào mùa xuân – hè (từ tháng 2 đến tháng 7).
  2. Thử nghiệm khả năng nhân giống cá Ong căng:

    • Nuôi vỗ thành thục: Khẩu phần phối hợp 50% cá tạp + 50% mực tươi (NT1) kết hợp vi chất (Vitamin C, E, khoáng, Bokashi trầu) cho tỷ lệ thành thục tuyến sinh dục đạt cao hơn rõ rệt so với nghiệm thức chỉ dùng 100% cá tạp (NT2).
    • Kích thích sinh sản: Đánh giá hiệu quả của LRH-A3 (+ DOM) ở các mức liều 40, 70, 100 µg/kg và HCG ở các liều 250, 500, 750 IU/kg. Xác định liều lượng tối ưu cho tỷ lệ cá đẻ cao, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cực đại.
    • Quan sát phát triển phôi: Mô tả trình tự các giai đoạn phân cắt phôi từ khi trứng thụ tinh, phôi vị hóa, hình thành mầm đuôi, cử động phôi đến khi nở thành cá bột trong điều kiện nhiệt độ 28–29°C và độ mặn 29–30‰.
    • Ương cá bột lên cá hương (ngày 1–15): Nghiệm thức kết hợp tảo Nannochloropsis oculata và luân trùng Brachionus rotundiformis đạt tỷ lệ sống cao nhất; độ mặn thích hợp nhất trong giai đoạn này là 25–30‰.
    • Ương cá hương lên cá giống (ngày 15–40): Đánh giá sự chuyển đổi thức ăn sang Artemia và thức ăn công nghiệp dạng mảnh/vi viên kết hợp với mức độ mặn tối ưu giúp cá đạt tốc độ tăng trưởng chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống cao nhất.
  3. Xây dựng quy trình nhân giống cá Ong căng: Tổng hợp các thông số kỹ thuật tối ưu thành 5 công đoạn công nghệ liên hoàn:

    • Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục đàn cá bố mẹ.
    • Kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ đạt tiêu chuẩn phát dục và tiêm thuốc kích thích sinh sản.
    • Kỹ thuật thu gom trứng, kiểm soát môi trường bể ấp nở cá bột.
    • Kỹ thuật ương nuôi cá giai đoạn từ cá bột lên cá hương.
    • Kỹ thuật ương cá từ cá hương lên cá giống đạt kích cỡ thương phẩm xuất xưởng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên cung cấp bộ dẫn liệu khoa học hoàn chỉnh và chuẩn xác về các đặc tính sinh học của cá Ong căng (Terapon jarbua) tại vùng biển và đầm phá ven bờ Thừa Thiên Huế.
  • Cung cấp dữ liệu định lượng về quy luật sinh trưởng (phương trình Von Bertalanffy), cấu trúc tuổi, phổ dinh dưỡng tự nhiên, chu kỳ phát dục, cấu trúc tế bào – mô học của buồng trứng và tinh sào qua các giai đoạn chín muồi sinh dục.
  • Xác định chính xác các pha phát triển phôi học và tập tính dinh dưỡng của ấu trùng cá Ong căng trong điều kiện nhân tạo.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Xác định được loại kích dục tố, liều lượng thích hợp (LRH-A3 phối hợp Domperidone và HCG) cùng phương thức tiêm 2 liều kích thích cá Ong căng rụng trứng và thụ tinh nhân tạo đạt hiệu quả cao.
  • Xác lập tổ hợp thức ăn sống ban đầu thích hợp (tảo đơn bào Nannochloropsis oculata và luân trùng Brachionus rotundiformis) cùng ngưỡng độ mặn (25–30‰) giúp nâng cao tỷ lệ sống của cá bột giai đoạn 15 ngày đầu.
  • Xây dựng thành công quy trình công nghệ nhân giống nhân tạo khép kín đối với loài cá Ong căng, cho phép chủ động sản xuất con giống chất lượng cao, giảm thiểu áp lực khai thác tự nhiên, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi có giá trị kinh tế tại khu vực đầm phá miền Trung.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Mẫu cá nghiên cứu phụ thuộc vào ngư cụ khai thác gần bờ của ngư dân và thu mẫu tại đầm phá, do đó việc thu thập cá thể ở các nhóm kích thước tối đa ($L_\infty$) ngoài biển khơi còn gặp giới hạn nhất định.
  • Quy trình nhân giống mới được kiểm chứng và hoàn thiện ở quy mô trại thực nghiệm (bể thể tích 500–1000 lít cho ương nuôi và 50 m³ cho nuôi vỗ), chưa mở rộng đánh giá hiệu quả kinh tế – kỹ thuật ở quy mô sản xuất hàng hóa công nghiệp đại trà qua nhiều mùa vụ liên tiếp.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thức ăn công nghiệp chuyên biệt cho từng giai đoạn ương nuôi cá con nhằm thay thế hoàn toàn thức ăn tươi sống, giúp giảm chi phí sản xuất.
  • Đánh giá khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống của đàn cá Ong căng giống nhân tạo khi đưa vào các mô hình nuôi thương phẩm khác nhau (nuôi lồng bè trong đầm phá, nuôi ao đất lợ mặn, nuôi ghép sinh thái).
  • Nghiên cứu sâu hơn về dịch bệnh học và các biện pháp phòng trị bệnh thường gặp trong quá trình nuôi vỗ bố mẹ và ương giống cá Ong căng.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng giá trị tài liệu

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sinh học, Động vật học, Thủy sản: Tham khảo hệ thống phương pháp nghiên cứu ngư học kinh điển (hồi tính sinh trưởng Rosa Lee, mô hình Von Bertalanffy, kỹ thuật mô học tuyến sinh dục, kỹ thuật phân tích phổ dinh dưỡng Biswas).
  2. Các viện, trung tâm nghiên cứu và cán bộ kỹ thuật thủy sản: Sử dụng các thông số kỹ thuật về liều lượng kích dục tố, tỷ lệ thức ăn, ngưỡng độ mặn và quản lý môi trường bể đẻ/bể ương để ứng dụng trực tiếp vào sản xuất con giống nhân tạo.
  3. Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Chi cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp & PTNT): Sử dụng dẫn liệu sinh học (mùa sinh sản, bãi đẻ, kích thước cá thành thục lần đầu) làm căn cứ khoa học để quy định lệnh cấm khai thác mùa sinh sản, kích thước mắt lưới tối thiểu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng nghiên cứu của luận án có đặc điểm phân loại và tên gọi như thế nào?

Cá Ong căng có tên khoa học là Terapon jarbua (Forsskål, 1775), thuộc họ cá Căng (Teraponidae), bộ cá Vược (Perciformes), lớp cá Vây tia (Actinopteri). Tên địa phương thường gọi là cá Căng, cá Ong căng hoặc cá Căng cát; tên tiếng Anh là Target Fish hoặc Crescent Perch.

2. Số lượng mẫu cá và phạm vi không gian thu mẫu của đề tài được triển khai ra sao?

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý tổng cộng 720 cá thể cá Ong căng từ tháng 09/2015 đến tháng 08/2017 tại 11 điểm/trạm thuộc vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế (cách bờ ≤ 3 km, độ sâu trung bình khoảng 20 m), bao gồm cửa sông Ô Lâu, Thuận An, Thủy Tú, cửa sông Truồi, cửa Tư Hiền, vụng An Cư, Quảng Lợi, Hoà Duân, Vinh Hưng, Lộc Bình và Lăng Cô.

3. Kỹ thuật mô học nào đã được sử dụng để nghiên cứu chu kỳ phát triển tuyến sinh dục của cá?

Đề tài sử dụng dung dịch Bouin để cố định mẫu mô (4–24 giờ), khử nước qua thang cồn, đúc khối paraffin ở nhiệt độ 57–60°C, cắt lát siêu mỏng và nhuộm Hematoxylin – Sắt (HS) đối với tinh sào cá đực, nhuộm Hematoxylin – Eosin (HE) đối với buồng trứng cá cái, sau đó quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại từ 40 đến 1000 lần để phân tích 4 thời kỳ phát triển tế bào trứng và 6 giai đoạn chín muồi sinh dục theo thang Kiselevits và Xakun & Buskaia.

4. Những loại kích dục tố nào đã được thử nghiệm để kích thích cá Ong căng sinh sản?

Hai nhóm chất kích thích sinh sản đã được thử nghiệm gồm:

  • Hỗn hợp LRH-A3 ở các liều l