Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ cố vấn học tập tại trường Đại học. Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ cố vấn học tập tại Trường Đại học Thủ Dầu Một. Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ cố vấn học tập tại Trường Đại học Thủ Dầu Một. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cuối thế kỷ XIX ở Mỹ, với sự gia tăng nhanh chóng của các trường ĐH đòi hỏi các trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho SV phát huy được năng lực học tập một cách chủ động và hiệu quả nhất, thời điểm này xuất hiện các nhóm tư vấn để hướng dẫn SV nhằm đảm bảo chất lượng GD (Brian Gillispie, 2003). Năm 1872, tại trường ĐH Harvard, Hoa Kỳ: Học chế tín chỉ ra đời thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế bằng hệ thống chương trình cấu thành bởi các mô đun mà mỗi SV có thể lựa chọn một cách linh hoạt, việc hoàn thành toàn bộ chương trình khóa học và nhận văn bằng được tính bằng việc SV tích lũy đủ số tín chỉ cần thiết. Có nhiều hình thức hỗ trợ người học rất đa dạng, trực tiếp cũng như gián tiếp, trong chính khóa cũng như trong các chương trình ngoại khóa, trong trường lớp cũng như ngoài lớp học, qua đội ngũ giảng viên cũng như qua các đội ngũ hỗ trợ khác, trong đó có việc các trường thành lập đội ngũ CVHT.
Sau đó không lâu nó được giới thiệu ra toàn nước Mỹ và từ đầu thế kỷ XX đã được áp dụng ở Canada và một số nước khác trên thế giới (Kiều Ngọc Quý, 2012); (Brian Gillispie, 2003). Ở các trường ĐH tại một số nước tiên tiến, đặc biệt ở Hoa Kỳ và các nước Tây Âu: Đối với cấp bậc ĐH, trong mỗi khoa của một trường đều có đội ngũ tư vấn rất đa dạng với các chức danh và nhiệm vụ sau đây: Cố vấn học tập (academic adviser), Người tư vấn hướng nghiệp (career adviser), Cố vấn hoạt động ngoại khóa (extracurricular adviser), Trợ giảng (Tutor/Teaching assistant), Điều phối viên (Coordinator), Người đôn đốc học tập (Promotor), Trợ lý giáo vụ, trợ lý khoa/bộ môn (Academic assistant, faculty assistant), Giáo viên chủ nhiệm lớp/nhóm (Dozent-in-charge hay teacher-in-charge). Đội ngũ tư vấn, CVHT trường ĐH các nước tiên tiến kể trên đa dạng, phong phú, ngoài kinh nghiệm chuyên môn, họ còn được cử đi tập huấn về công tác tư vấn, tham vấn học tập, 9 quản lý học vụ,…giúp SV học theo học chế tín chỉ và SV quốc tế trong thời hội nhập khá hiệu quả. Sự đa dạng của các ngành nghề khác nhau cùng cơ hội và lợi thế của từng lĩnh vực dẫn đến ý tưởng của tư vấn và tư vấn trong môi trường ĐH (Gordon, V.
Theo Brian Gillispie (2009), với sự gia tăng của các trường ĐH trong suốt thế kỷ 19, hoạt động CVHT đã được định hình rõ ràng hơn trong việc CVHT hướng dẫn SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực, SV cũng tìm đến CVHT để tìm hiểu các vấn đề về sự công bằng, trách nhiệm xã hội, ngành nghề,. Đặc biệt, chức danh CVHT chính thức xuất hiện khi hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ ra đời (Gillispie, Brian, 2003). Nhà nghiên cứu Lee, Courtland C. (2001) cũng đã có bài viết về hoạt động CVHT trong sự đa dạng văn hóa tại Hoa Kỳ hiện nay.
Theo tác giả, trong số các vấn đề mà CVHT phải đối mặt, việc đáp ứng số lượng ngày càng tăng của SV từ các nền văn hóa khác nhau có lẽ là thách thức lớn nhất. Nguyên nhân một phần là do các dịch vụ tư vấn trường học hiện nay thường không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học (Lee, Courtland C, 2001). Bài viết của tác giả L. DiAnne Borders (2002) đã đặt ra các câu hỏi xoay quanh vai trò của CVHT là Who? What? When? Where? và How? Theo đó, nhiệm vụ của một người cố vấn, một mặt, sử dụng những kỹ năng tư vấn hướng tới mục tiêu tăng cường sự thành công trong học tập và kế hoạch nghề nghiệp cho tất cả SV; mặt khác, CVHT cũng góp phần tạo ra những sự thay đổi về môi trường (lớp học, trường học, gia đình, xã hội), vì họ tin rằng, muốn thay đổi một cá nhân thì trước hết cần phải thay đổi các mối quan hệ xung quanh cá nhân đó (L.
Các tác giả Gordon (1992), Strange (1994), Strommer (1999), Brian Gillispie (2009) cho rằng: CVHT tư vấn cho SV về chọn khóa học, ngành học phù hợp với năng lực và sở thích của SV, tư vấn và xét duyệt kế hoạch học tập của SV, trong đó có việc tăng giảm môn học, chọn ngành đào tạo chính, phụ. Họ nắm rất rõ chương trình đào tạo, cấu trúc và nội dung chương trình học, trình tự hợp lý các môn học, danh mục các môn học bắt buộc cũng như tự chọn phù hợp với từng định 10 hướng đầu ra khác nhau trong học chế tín chỉ, kể cả thực tập chuyên môn,. để tư vấn cho SV khi bắt đầu nhập học, chuẩn bị vào giai đoạn chuyên ngành hay khi sắp kết thúc chương trình học, học thêm văn bằng 2, học sau ĐH. CVHT là những người am hiểu cấu trúc chương trình đào tạo, nội dung của các khối kiến thức có trong chương trình, nội dung và vị trí của từng môn học được nhà trường tổ chức giảng dạy.
Các CVHT hướng dẫn SV lựa chọn các môn học để xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo và điều kiện riêng của SV (năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh kinh tế). Bản đăng ký các môn học của SV phải có chữ ký của cố vấn học tập xác nhận là đã được tham khảo ý kiến thì mới được nhà trường xem xét để xếp lớp học. Không chỉ cung cấp thông tin, Cố vấn học tập còn là người khích lệ, động viên, giúp đỡ SV phát huy năng lực bản thân để có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân trong quá trình theo học tại trường (Viện Nghiên cứu Giáo dục, 2010). Theo Crookston (1972), Ford and Ford (1989), Frost và Hoffmann (1986), Wilder (1981), CVHT (academic adviser) được lựa chọn trên cơ sở các tiêu chí gắn với mục tiêu của chương trình học, đáp ứng nhu cầu của SV và nhà trường.
CVHT được lựa chọn sẽ tiếp tục tham gia đào tạo nhằm đạt được những kỹ năng cần thiết cho công tác tư vấn (Susan D. Năm 1979, Hiệp hội CVHT Quốc gia (NACADA) ra đời đã làm thúc đẩy và hoàn thiện hoạt động CVHT, tư vấn cho SV nhận được sự tín nhiệm lớn của SV và được coi như một nghề. Đây là một hiệp hội các nhà tư vấn chuyên nghiệp, giáo viên tư vấn, quản trị viên và có cả những SV, họ cùng nhau làm việc, nghiên cứu, thực hành để tìm cách tăng cường, phát triển chất lượng của GD&ĐT theo tín chỉ. Hiệp hội CVHT Quốc gia Hoa Kỳ đã tập trung làm rõ cách thức mà một CVHT (có thể là giáo viên bộ môn, nhà tư vấn chuyên nghiệp, hoặc SV năm trên, các thạc sỹ, nghiên cứu sinh) có thể làm việc hiệu quả với người học để xây dựng nên đời sống tâm trí của họ trong học tập – nghề nghiệp, phát triển cá nhân và xã hội (Brian Gillispie, 2003).
Vào năm 1999, có 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục ĐH ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian 11 GDĐH Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và các quốc gia có nền GD phát triển. Hầu hết các trường ĐH trên thế giới đều có Trung tâm hoặc văn phòng tư vấn của CVHT, những người thực hiện công việc này đều được đào tạo từ các ngành trợ giúp hoặc tốt nghiệp từ ngành Tâm lý, Tham vấn, Công tác xã hội hoặc Giáo dục. Hằng năm họ đều có những cuộc kiểm tra, đánh giá về chất lượng hoạt động (http://www.rs/eng/oEspb.McMahan (2008) cho rằng: vị trí CVHT đòi hỏi cần có bằng thạc sỹ trong một số lĩnh vực như: giáo dục học, QLGD, tâm lý học, công tác xã hội nhằm đảm bảo lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để CVHT thực hiện vai trò của mình hiệu quả (McMahan A. Hoạt động CVHT không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng GD thật sự hơn.
Hoạt động CVHT phát triển được ứng dụng trên nhiều lý thuyết khác nhau, các CVHT không nên bị sa lầy vào một lý thuyết phát triển cụ thể nào, mà cần có hiểu biết về một vài lý thuyết phát triển cụ thể để ứng dụng trong công việc của mình. Việc xây dựng lý thuyết cho hoạt động CVHT sẽ tạo ra các lăng kính mà thông qua đó việc học tập của SV có thể hiện lên một cách rõ nét. Tuy nhiên, một lăng kính không thể được sử dụng mãi mãi bởi vì người được quan sát cũng như đối tượng quan sát luôn luôn thay đổi. Việc tìm kiếm và áp dụng nhiều lý thuyết tiếp cận từ góc độ khoa học phát triển, từ các khoa học trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, từ thực hành giáo dục.
sẽ giúp các CVHT nắm được một cách đầy đủ sự phát triển tâm – sinh lý và xã hội của SV, nhìn nhận sâu sắc hơn những vấn đề của SV. Có thể kể ra một số lý thuyết cụ thể đã đem lại hiệu quả cho hoạt động CVHT, đó là: lý thuyết về phát triển tâm lý – xã hội của con người, thuyết phát triển nhu cầu, thuyết phát triển văn hóa xã hội. Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nhà nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong GD, QL, trong tham vấn. Các lý thuyết này giúp cho các CVHT tiếp cận với SV một cách toàn diện.
Ngoài ra, quá trình xã hội hóa cá nhân liên quan 12 đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn đề người khuyết tật, người đồng tính. đã làm đa dạng hóa các nhóm SV, chúng đòi hỏi các CVHT không thể không lưu ý khi cố vấn cho SV (Virgina N. Grites and Associates, 2008). Có thể thấy hoạt động CVHT đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ khá sớm và đã hình thành một nền tảng lí luận cho hoạt động này.