Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TẠO NGUỒN NỮ CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1. Khái quát chung về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý 1. Quan niệm về tạo nguồn trong công tác cán bộ Thuật ngữ “tạo nguồn” được Đảng và Nhà nước ta sử dụng rộng rãi trong công tác cán bộ, tuy nhiên chưa có một khái niệm hay nội hàm chính thức cho thuật ngữ này. Qua quá trình thực hiện công tác cán bộ, thuật ngữ “tạo nguồn” được sử dụng tập trung ở quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng nguồn cùng với những giải pháp chính sách phù hợp.
Qua nghiên cứu cho thấy tạo nguồn cán bộ thuộc nội hàm khái niệm công tác cán bộ của Đảng. Đó là khâu có vị trí hàng đầu, nhưng cũng bao hàm LV thạc sĩ Quản lý công nhiều khâu của quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Thuật ngữ “tạo nguồn cán bộ” lần đầu tiên xuất hiện tại Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 (Khóa IV) của Đảng. Tuy nhiên, nhiều nội dung, quan điểm liên quan đến tạo nguồn cán bộ đã được các lãnh tụ cách mạng đề cập đến ngay từ những ngày đầu xây dựng các tổ chức tiền thân của Đảng, có thể khái quát thành những nội dung cụ thể như sau: Một là, tạo nguồn cán bộ nhằm xây dựng lực lượng cho cách mạng.
Đó là trách nhiệm của Đảng, của các lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, công tác tạo nguồn cán bộ phải đạt dưới sự lãnh đạo tập trung của Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy, theo một kế hoạch chặt chẽ, có hệ thống. Cơ chế người đứng đầu tiến cử, đề xuất, giới thiệu nguồn được đặt ra: “Xây dựng, thực hiện cơ chế tiến cử cán bộ, cơ chế người đứng đầu đề xuất, chuẩn bị người quy hoạch thay thế mình, người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu để bầu 11 cử, bổ nhiệm cấp phó; thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ cấp ủy”. Hai là, đối tượng tạo nguồn cán bộ hướng đến nhiều nhóm giai tầng xã hội, nhưng có tính ưu tiên, cơ cấu.
Cùng với việc xác định đối tượng tạo nguồn rộng rãi, vấn đề ưu tiên cơ cấu, thành phần, chế độ, chính sách trong đào tạo cán bộ được đặt ra. Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 3 năm 1982) nhấn mạnh: “Coi trọng đào tạo cán bộ từ công nhân, nữ, người dân tộc, cán bộ tại chỗ cho địa phương, cơ sở, nhất là ở miền Nam, miền núi” [5]. Tháng 6 năm 2012, sau khi tổng kết công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, để đổi mới công tác tạo nguồn cán bộ, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi tiếp tục được Đảng bổ sung vào đối tượng nguồn quy hoạch cán bộ cho lâu dài. Như vậy, xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu của nhiệm vụ từng giai đoạn và khả năng thực tế của các lực lượng xã hội mà Đảng ta xác định đối LV thạc sĩ Quản lý công tượng tạo nguồn cán bộ cho phù hợp.
Ba là, cần thực hiện nhiều nội dung, biện pháp để tạo nguồn cán bộ. Khi thuật ngữ tạo nguồn cán bộ lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV, tiêu chuẩn để định hướng tạo nguồn là phẩm chất và năng lực thực tế. Mục tiêu của tạo nguồn là để kiện toàn đội ngũ cán bộ theo cơ cấu đồng bộ, đáp ứng được tiêu chuẩn theo từng vị trí và để thay thế cán bộ khi cần thiết. Nội dung tạo nguồn gồm các công việc thuộc phạm vi công tác cán bộ như lựa chọn, sắp xếp, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ.
Cho đến nay, quan điểm của Đảng là thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân để tuyển chọn nguồn, rèn đức, luyện tài cán bộ; Đảng phải tập trung lãnh đạo xây dựng và thực hiện tốt chiến lược cán bộ, tạo ra những thế hệ cán bộ mới có đức, có tài, trung thành với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, được đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống và toàn diện, được rèn luyện thử thách trong phong trào quần chúng và các hoạt động thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp 12 hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy, bên cạnh việc xác định tiêu chuẩn, tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, luân chuyển, sắp xếp, bố trí để tạo nguồn cán bộ, thì việc tập hợp, thu hút, rèn luyện, thử thách nguồn qua phong trào hành động cách mạng cũng là nội dung được Đảng ta đề cập đến. Qua nghiên cứu những quan điểm, chủ trương của Đảng về tạo nguồn cán bộ cho thấy: Tạo nguồn trong công tác cán bộ là một quá trình với nhiều hoạt động, từ việc phát hiện, lựa chọn nguồn, quy hoạch nguồn đến đào tạo, luân chuyển, bố trí để tạo ra một đối ngũ cán bộ dự bị cho các chức danh theo tiêu chuẩn, điều kiện nhất định, sẵn sàng cho việc bổ sung, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ của Đảng. Quan niệm về tạo nguồn nữ công chức lãnh đạo, quản lý 1.
Khái niệm công chức Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định công chức LV thạc sĩ Quản lý công là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định này, tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh 13 đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định, được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập. Điều này thể hiện và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội. Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý LV thạc sĩ Quản lý công các đơn vị sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp và phụ thuộc vào cấp có thẩm quyền thành lập và quản lý. Hiện nay, công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức.
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, công chức được xác định theo các tiêu chí: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. 14 Điều 5, Điều 10 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập và công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập, gồm: (1) Thứ trưởng và người giữ chức danh, chức vụ tương đương; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra và tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; (2) Tổng cục trưởng và tương đương, Phó Tổng cục trưởng và tương đương, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, vụ, thanh tra thuộc Tổng cục và tương đương; (3) Cục trưởng, Phó Cục trưởng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, phòng, thanh tra, chi cục thuộc Cục; LV thạc sĩ Quản lý công (4) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập.