Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1.
Khái niệm việc làm, tạo việc làm, chính sách tạo việc làm cho TNNT 1. Việc làm Ở những góc độ nghiên cứu khác nhau thì sẽ đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, luật pháp…người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Do đó, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Một số khái nhiệm việc làm được diễn đạt theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân thành hai loại:Có trả công (những người làm thuê, học việc…) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình…). Từ đó, “Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật hoặc có thu nhập, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nổ lực sản xuất”[10,tr.
Xét dưới góc độ triết học, theo tính chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con người với tư liệu sản xuất. Ở Việt Nam, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp trước đây, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế và cũng không thừa nhận có hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp. Theo khoản 2, điều 3 Luật việc làm năm 2013 thì “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [22, tr.1] 7 Từ một số khái niệm trên, có thể quan niệm việc làm như sau: Việc làm là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật cấm. Theo đó, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn 2 tiêu chí: - Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu chí tạo ra thu nhập của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. - Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn người lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước. Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức. Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm.
thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm. Hiện nay, việc nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản. Nếu như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản thân người lao động.
Sự thay đổi này phù hợp với thực tiễn 8 phát triển nền kinh tế thị trường, có vai trò quan trọng trong quá trình giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo việc làm và phát triển thị trường lao động ở nước ta. Để hiểu rõ hơn khái niệm về việc làm, cần làm sáng tỏ khái niệm người có việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”[10;tr. Đối với nước ta người có việc làm là những người trên 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, công ty làm việc để nhận tiền lương, hoặc đang làm việc dịch vụ cho bản thân, gia đình và các việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình.
Có việc làm là có thu nhập, là đòi hỏi chính đáng của người lao động. Tạo được việc làm tức là thu hút được nguồn lực lao động vào quá trình sản xuất, làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, tạo ra tiền đề vật chất để giải quyết tốt mối quan hệ gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Thiếu việc làm: là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập. Thất nghiệp: theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành” [8,tr.
Sự phát triển của thị trường lao động ở nước ta đã chỉ ra các dạng thất nghiệp khác nhau: 9 - Thất nghiệp tạm thời: đây là tình trạng người lao động tự nguyện bỏ việc, có thời gian tìm việc làm mới phù hợp với khả năng, sở thích của mình. - Thất nghiệp cơ cấu: là tình trạng xảy ra do mất đồng bộ giữa cơ cấu lao động và cơ hội việc làm do sự phát triển của nhu cầu tiêu dùng và công nghệ. Loại thất nghiệp này mang đặc điểm của thất nghiệp dài hạn. - Thất nghiệp chu kỳ: là thất nghiệp phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không ổn định.
Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ. Vấn đề việc làm - giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nước có nền kinh tế phát triển. Và để giải quyết vấn đề này, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho NLĐ nhưng cũng có biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ.
Các biện pháp mang tính hỗ trợ cho giải quyết việc làm như khuyến khích đầu tư, lập các chương trình việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng…Các biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm như đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng lao động và tự do lao động. Tất cả nhằm hướng tới mục đích làm giảm tình trạng thất nghiệp, mất cân bằng lao động. Tạo việc làm Theo Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân (2013) của PGS.TS Trần Xuân Cầu: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để người lao động có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường”[8,tr. Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao dộng và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển của đất nước.
Tạo việc làm cho người lao động là 10 đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường”. Có thể hiểu tạo ra việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm, tạo thêm việc làm cho những người lao động đang thiếu việc làm và giúp người lao động tự tạo việc làm. Cơ chế tạo việc làm là cơ chế 3 bên gồm có: - Về phía người lao động: Người lao động muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội. để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định.
- Về phía người sử dụng lao động: Bao gồm các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất. là những nơi tạo ra việc làm. Duy trì ổn định chỗ làm việc, thu hút người lao động vào làm việc. Muốn vậy, người sử dụng lao động phải có vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm và tổ chức quản lý, phải tìm được đầu vào cũng như đầu ra cho sản phẩm.
- Về phía Nhà nước: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách tạo việc làm, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách thu hút lao động trẻ. Khái niệm chính sách Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên nó là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng.