Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí các trường THPT huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long

Quản lí hoạt động dạy học Vật lí THPT huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. Tìm hiểu phương pháp nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả dạy học tại các trường.

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Tác giả

Trần Quang Huy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

159
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí THPT

Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí các trường THPT ở huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long là công trình nghiên cứu khoa học giáo dục được thực hiện năm 2018. Đề tài thuộc chuyên ngành quản lí giáo dục, mã số 8140114, do nghiên cứu sinh Trần Quang Huy thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Đệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Môn Vật lí giữ vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục THPT. Môn học giúp học sinh làm chủ thế giới tự nhiên, rèn luyện tư duy khoa học, giải thích các hiện tượng cuộc sống. Học tốt môn Vật lí tạo nền tảng cho việc theo đuổi các chuyên ngành kĩ thuật và công nghệ. Ngoài ra, môn học còn phát triển năng lực trí tuệ, giáo dục phẩm chất đạo đức và thẩm mĩ cho học sinh. Hoạt động dạy học môn Vật lí bao gồm nhiều yếu tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả. Quản lí hoạt động dạy học đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên bộ môn.

1.1. Vị trí và vai trò của môn Vật lí trong trường THPT

Môn Vật lí là một trong những môn học tự nhiên quan trọng bậc nhất trong chương trình giáo dục THPT. Môn học trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về các khái niệm vật lí, đại lượng vật lí, định luật vật lí và ứng dụng trong kĩ thuật, tự nhiên. Về kĩ năng, học sinh được rèn luyện khả năng quan sát, giải thích hiện tượng, thu thập thông tin, sử dụng dụng cụ thí nghiệm. Môn Vật lí phát triển tư duy khoa học, tính chính xác, cẩn thận cho học sinh. Học sinh học tốt môn Vật lí sẽ tự tin, năng động hơn khi vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tiễn.

1.2. Đặc điểm huyện Trà Ôn và bối cảnh nghiên cứu

Huyện Trà Ôn nằm phía Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, gồm thị trấn Trà Ôn và 13 xã. Diện tích tự nhiên 267,27 ha, dân số khoảng 143.167 người, mật độ 510 người/km². Huyện cách thành phố Cần Thơ 20 km, cách thành phố Vĩnh Long 50 km. Hệ thống giao thông bao gồm Quốc lộ 54, các đường tỉnh 901, 904, 906, 907 cùng đường huyện, đường nông thôn tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Trà Ôn tiếp giáp sông Hậu và sông Măng Thít, thuận lợi giao thương đường thủy.

II. Phân tích thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí THPT

Nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí tại các trường THPT huyện Trà Ôn chỉ ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Hoạt động dạy học môn Vật lí bao gồm nhiều khâu: xây dựng kế hoạch, tổ chức giờ học, sử dụng phương pháp dạy học, thực hành thí nghiệm và đánh giá kết quả. Thực tế cho thấy việc quản lí các khâu này còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất phục vụ dạy học môn Vật lí tại một số trường chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Phòng thí nghiệm thiếu trang thiết bị hiện đại, dụng cụ thí nghiệm cũ kĩ, hư hỏng. Ngân sách đầu tư cho bộ môn Vật lí còn eo hẹp, ảnh hưởng đến việc mua sắm thiết bị mới. Đội ngũ giáo viên môn Vật lí tại huyện Trà Ôn có trình độ chuyên môn khác nhau. Một số giáo viên chưa được bồi dưỡng thường xuyên về phương pháp dạy học mới. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Vật lí còn hạn chế. Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực học sinh, đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

Cơ sở vật chất phục vụ dạy học môn Vật lí tại các trường THPT huyện Trà Ôn còn nhiều thiếu thốn. Phòng thí nghiệm tại nhiều trường không đạt chuẩn, thiếu ánh sáng, không gian chật hẹp. Thiết bị thí nghiệm cũ kĩ, nhiều dụng cụ hư hỏng không được thay thế kịp thời. Máy tính, phần mềm mô phỏng thí nghiệm ảo chưa được trang bị đầy đủ. Thư viện trường thiếu tài liệu tham khảo chuyên sâu về môn Vật lí. Ngân sách phân bổ cho bộ môn không đủ để đầu tư trang thiết bị mới, hiện đại.

2.2. Hạn chế về năng lực đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học

Đội ngũ giáo viên môn Vật lí tại huyện Trà Ôn có trình độ chuyên môn không đồng đều. Nhiều giáo viên chưa được tham gia các khóa bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo hướng phát triển năng lực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng còn hạn chế, giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống. Giáo viên gặp khó khăn khi triển khai các hoạt động thực hành, thí nghiệm do thiếu thiết bị. Công tác đánh giá kết quả học tập của học sinh nặng về kiểm tra kiến thức, chưa chú trọng đánh giá năng lực thực hành.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí dạy học môn Vật lí THPT

Luận văn đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí tại các trường THPT huyện Trà Ôn. Giải pháp đầu tiên tập trung vào hoàn thiện hệ thống kế hoạch dạy học. Ban giám hiệu cần xây dựng kế hoạch năm học chi tiết cho bộ môn Vật lí, bao gồm tiến độ chương trình, lịch kiểm tra, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên. Giải pháp thứ hai là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất. Các trường cần ưu tiên ngân sách nâng cấp phòng thí nghiệm, mua sắm thiết bị hiện đại, trang bị máy tính và phần mềm mô phỏng. Giải pháp thứ ba liên quan đến bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Tổ chức các chuyên đề dạy học tích cực, tập huấn sử dụng công nghệ thông tin, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Giải pháp thứ tư là đổi mới kiểm tra đánh giá, chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực toàn diện. Cần xây dựng hệ thống đánh giá nhiều chiều, kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết thúc học phần.

3.1. Hoàn thiện hệ thống kế hoạch và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất

Hoàn thiện hệ thống kế hoạch dạy học môn Vật lí là giải pháp nền tảng. Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch năm học chi tiết, xác định rõ mục tiêu, nội dung, thời gian thực hiện từng phần chương trình. Kế hoạch cần bao gồm lịch kiểm tra định kì, kế hoạch ôn tập, kế hoạch thực hành thí nghiệm song song với lí thuyết. Về cơ sở vật chất, các trường cần lập dự toán ngân sách ưu tiên cho bộ môn Vật lí. Đầu tư nâng cấp phòng thí nghiệm đạt chuẩn, mua sắm bộ dụng cụ thí nghiệm mới, trang bị máy chiếu, máy tính, phần mềm mô phỏng hiện đại. Thư viện bổ sung sách tham khảo, tài liệu dạy học chuyên sâu.

3.2. Bồi dưỡng chuyên môn và đổi mới phương pháp đánh giá

Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên môn Vật lí là giải pháp then chốt. Nhà trường tổ chức các chuyên đề dạy học theo hướng phát triển năng lực, tập huấn phương pháp dạy học tích cực. Giáo viên được tham gia khóa tập huấn sử dụng công nghệ thông tin, thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng phần mềm mô phỏng thí nghiệm ảo. Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học giúp giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng đánh giá năng lực toàn diện. Xây dựng ngân hàng câu hỏi đánh giá đa dạng, kết hợp đánh giá quá trình, đánh giá sản phẩm học tập, đánh giá thực hành với đánh giá lí thuyết.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận văn thạc sĩ giáo dục

Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí các trường THPT ở huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí tại huyện Trà Ôn còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, năng lực giáo viên và phương pháp dạy học. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Ứng dụng thực tiễn của luận văn thể hiện trên nhiều phương diện. Kết quả nghiên cứu giúp ban giám hiệu các trường THPT huyện Trà Ôn nhận diện rõ thực trạng, từ đó có kế hoạch cải tiến phù hợp. Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng cho các huyện khác trong tỉnh Vĩnh Long và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho nghiên cứu sinh, học viên cao học quan tâm đến lĩnh vực quản lí giáo dục. Công trình góp phần bổ sung kho tài liệu khoa học về quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí ở vùng nông thôn.

4.1. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Về mặt lí luận, luận văn hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí trong trường THPT. Nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các yếu tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá trong hoạt động dạy học. Luận văn đề xuất mô hình quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí phù hợp với điều kiện nông thôn. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp các trường THPT huyện Trà Ôn xác định giải pháp cải tiến cụ thể, khả thi. Nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lí giáo dục địa phương.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển đề tài

Luận văn đưa ra nhiều khuyến nghị cho các cơ quan quản lí giáo dục và nhà trường. Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Long cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra hoạt động dạy học môn Vật lí tại các trường THPT. Phòng Giáo dục huyện Trà Ôn tổ chức các đợt tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thường xuyên hơn. Các trường THPT ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin. Hướng phát triển đề tài bao gồm mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các huyện khác, so sánh hiệu quả quản lí giữa các vùng miền. Nghiên cứu sâu hơn về tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến hoạt động dạy học môn Vật lí.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lí hoạt động dạy học môn vật lí các trường thpt ở huyện trà ôn tỉnh vĩnh long

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ TRƯỜNG THPT 1. Sơ lược lịch sử vấn đề quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Hoạt động dạy học luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới với mục tiêu là tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao góp phần xây dựng và phát triển đất nước làm cho dân giàu, nước mạnh. Trong các thời kì khác nhau, hoạt động dạy học được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức dạy học,… khác nhau, nhưng mục tiêu đều hướng vào người học nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và hoạt động học (Hà Nhật Thắng và Đào Thanh Tâm, 1998).

Socrate (469 – 399 TCN): Ông theo trường phái duy tâm chủ quan. Nổi tiếng về sự hoài nghi và cách dạy học hỏi – đáp để tìm ra chân lí. Phương pháp dạy học hỏi – đáp được gọi là “thuật đỡ đẻ” hay là “phương pháp Socrate”. Platon (427 – 348 TCN): Giáo dục giúp cho con người có lí trí, giáo dục có tính chọn lọc cho phù hợp với khả năng của từng người, ai giỏi thì được học lên mãi.

Người giỏi nhất sẽ được chọn để đứng đầu Nhà nước. Ông đánh giá rất cao vai trò của giáo dục, xem giáo dục là nhiệm vụ của tất cả mọi người, của toàn xã hội, giáo dục con người là cả một quá trình lâu dài. Khổng Tử (551 – 479 TCN): Ông quan niệm mục đích giáo dục là nhân nghĩa trung chính. Quân tử phải học đạo để thương người, trị người; tiểu nhân học đạo để dễ sai khiến, biết phục tùng; giáo dục làm cho dân giàu nước mạnh; giáo dục phục vụ chính trị “đức trị” và “tu thân”.

Nội dung giáo dục là Đạo - đức với trung tâm là Nhân. Makarenkô (1888 – 1939): Mục tiêu giáo dục lí tưởng sư phạm; giáo dục nhân cách, nghề nghiệp, tính cách, phẩm chất cá nhân liên quan đến cuộc sống cá nhân và xã hội Cộng sản. Nội dung giáo dục: giáo dục trí tuệ sáng tạo lợi ích; giáo dục đạo đức: nền nếp, kỉ luật tự giác, chủ nghĩa tập thể; giáo dục lao động: tập thể, lợi ích 8 chung, vận dụng tri thức, đạo đức lao động; giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ. John Deway (1859 – 1952): Ông là người đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục và là đại biểu của lí luận giáo dục hiện đại.

Ông kêu gọi sự gắn kết giữa lí thuyết và thực hành, dân chủ là tự do, nhà trường là xã hội, giáo dục là cuộc sống, lấy hoạt động của người học làm chính yếu. Ông xây dựng một nền giáo dục mang tính hiệu quả và lợi ích, tính chủ động của người học và liên hệ với đời sống. Ông chủ trương đưa chủ đề học vào kinh nghiệm thực tế, nhưng để dạy được như thế đòi hỏi phải có những giáo viên giỏi, họ phải là những người có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết thấu đáo chủ đề học, được đào tạo đầy đủ về tâm lí học lứa tuổi và sư phạm, khéo léo trong kĩ thuật đưa ra những tác nhân kích thích cần thiết để chủ đề học trở thành một phần trong sự trải nghiệm ngày càng mở rộng của học sinh. Ngày 15/5/2012, tại Liên Hợp Quốc, UNESCO đã tổ chức hội thảo với tiêu đề “Giáo dục đạo đức phải trở thành vấn đề quan trọng” qua đó khẳng định vai trò quan trọng của việc tăng cường trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức ở tất cả các khu vực trên toàn cầu.

Như vậy, lí luận về HĐDH và lí luận về quản lí HĐDH là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu sư phạm trên thế giới quan tâm. Trong đó, việc kết hợp giáo dục trí dục với đạo đức là yêu cầu tất yếu của giáo dục toàn diện. Nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam có nhiều nhà nghiên cứu về hoạt động dạy học trên nhiều lĩnh vực khác nhau, cụ thể: Nghiên cứu về vị trí vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học; đổi mới nội dung và đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học có nhà sư phạm nổi tiếng là Trần Kiểm (Trần Kiểm, 1997). Nghiên cứu sâu về đổi mới nội dung dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với đời sống thực tế, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm có Phạm Viết Vượng (Phạm Viết Vượng, 2007).

9 Nghiên cứu về các biện pháp quản lí hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh để nâng cao chất lượng giáo dục có Đặng Quốc Bảo (Đặng Quốc Bảo, 2010). Nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường với “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục” (Trần Kiểm, 2008). Nghiên cứu về công tác quản lí giáo dục trong nhà trường có thể kể đến các công trình của các tác giả như: Nguyễn Ngọc Quang (Nguyễn Ngọc Quang, 1998), Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 1996) đã nhấn mạnh vai trò của quản lí dạy học trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường phổ thông, có thể kể đến các công trình như: “Quản lí và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” (Trần Khánh Đức, 2004); “Cẩm nang nâng cao năng lực quản lí nhà trường” (Đặng Quốc Bảo, 2007); “Những vấn đề cơ bản của Giáo dục học hiện đại” (Thái Duy Tuyên, 1999); Tác giả Trần Kiểm với những tài liệu, giáo trình chuyên khảo về khoa học quản lí giáo dục như: “Khoa học quản lí nhà trường phổ thông” (Trần Kiểm, 2008); “Khoa học quản lí giáo dục - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” (Trần Kiểm, 2008); “Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lí giáo dục” (Trần Kiểm, 2008)… đã kế thừa thành tựu của những người đi trước và đồng nghiệp, bổ sung, cập nhật và sắp xếp thành một hệ thống nhất định những vấn đề về lí luận và thực tiễn có liên quan đến khoa học quản lí giáo dục. Thời gian gần đây đã có một số Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường THPT như: tác giả Tòng Thế Long với Biện pháp quản lí hoạt động dạy học Vật lí trường THPT Nguyễn Viết Xuân, tỉnh Vĩnh Phúc; tác giả Lê Bá Long với Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường THPT huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa,.

Vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường luôn được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là trong thời đại công nghiệp 4.0 khoa học kĩ thuật ngày càng được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực thì hoạt động dạy và học nhất là môn Vật lí càng được quan tâm đầu tư, xây dựng để phù hợp và theo kịp thời đại. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều 10 kết quả được công bố có thể khác nhau nhưng đều có điểm chung là khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường nhất là các trường THPT nhằm nâng cao chất lượng trong các cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, ở tỉnh Vĩnh Long nói chung và ở huyện Trà Ôn nói riêng hiện nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề quản lí hoạt động dạy học bộ môn Vật lí ở các trường THPT trong bối cảnh toàn ngành đang thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW.

Vì lí do trên, tôi muốn đi sâu tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí các trường THPT ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long để có đủ cơ sở thực tiễn đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Vật lí phù hợp với điều kiện thực tế của huyện nhà, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí các trường THPT ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí Quản lí là một hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu và đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển trong mọi quốc gia, mọi tổ chức và quản lí đã trở thành hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Chúng ta, tìm hiểu một số khái niệm quản lí ở các nhà nghiên cứu sau: Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: Quản lí với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và cho từng thành tố của hệ (Nguyễn Văn Lê, 1995).

Theo tác giả Trần Khánh Đức: Quản lí là hoạt động có ý thức của con người, nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và sự phối hợp hành động của một nhóm hay một cộng đồng người để đạt các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất (Trần Khánh Đức, 2010). Theo định nghĩa của các tác giả trong tác phẩm: “Khoa học tổ chức và quản lí - một số vấn đề lí luận và thực tiễn”. Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lí - NXB Thống Kê - Hà Nội - 1999 thì quản lí là: “Một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu chung” (Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lí, 1999). 11 Tác giả Trần Kiểm: Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất (Trần Kiểm, 2004).

Tác giả Nguyễn Bá Sơn: Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” (Nguyễn Bá Sơn, 2000). Từ các khái niệm của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước ta có thể kết luận: Quản lí gồm có 2 yếu tố là chủ thể quản lí (người quản lí) và khách thể quản lí (người bị quản lí) có sự tác động và tương hỗ lẫn nhau. Người quản lí tạo ra các tác động có mục đích, có kế hoạch đến người bị quản lí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ