Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI. Một số khái niệm nghiên cứu. Các lý thuyết sử dụng. Vài nét về tình hình ly hôn ở Việt Nam và giới thiệu về địa bàn khảo sát.
34 Chương 2: NHẬN DIỆN VÀ TÌM HIỂU CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ SAU LY HÔN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG. Đặc điểm của phụ nữ ly hôn. Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với con cái. Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với hai bên gia đình.
Quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với bạn bè, đồng nghiệp. Nhu cầu, mong muốn của phụ nữ đối với các mối quan hệ xã hội sau ly hôn. 67 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
77 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Đánh giá của phụ nữ về mối quan hệ với con sau ly hôn .2: Quan điểm của người trả lời về nhận định .3: Nơi ở của phụ nữ 12 tháng sau ly hôn .4: Đánh giá của phụ nữ về mối quan hệ với gia đình gốc sau ly hôn .5: Mức độ duy trì mối quan hệ với chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn .6: Kiểm định mối liên hệ giữa trình độ học vấn của phụ nữ và mức độ duy trì quan hệ với chồng cũ của họ sau ly hôn .7: Kiểm định mối liên hệ giữa nghề chính của phụ nữ và mức độ duy trì quan hệ với chồng cũ của họ sau ly hôn .8: Kiểm định mối liên hệ giữa số năm ly hôn của phụ nữ và mức độ tới thăm bố mẹ chồng cũ của họ sau ly hôn .9: Đánh giá của phụ nữ về nhận định “Tôi trở nên khép mình, ngại giao du với bạn bè” trong 12 tháng sau ly hôn: .10: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn với nhận định có trở nên ít giao du với bạn bè hơn sau ly hôn hay không .11: Mối quan hệ của phụ nữ sau ly hôn với đồng nghiệp ở nơi làm việc .12: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của phụ nữ và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc sau ly hôn .13: Mức độ duy trì mối quan hệ với. 64 những người bạn chung của chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn .14: Tỷ lệ trả lời của phụ nữ với các câu hỏi liên quan đến bạn tình.15: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn và tỷ lệ phụ nữ cố tỏ ra vui vẻ trước mặt mọi người dù thực tế không phải vậy. 71 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Số vụ ly hôn trên cả nước năm 2014 .2: Số vụ ly hôn trên cả nước năm 2015 .1: Nguyên nhân ly hôn nhìn từ góc độ phụ nữ .2: Đánh giá của phụ nữ về việc dạy và chăm sóc con sau ly hôn .3: Kiểm định mối liên hệ giữa tình trạng kinh tế của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với con cái .4: Kiểm định mối liên hệ giữa tuổi của phụ nữ và mối quan hệ của họ với gia đình gốc sau ly hôn.5: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với chồng cũ .6: Mức độ tới thăm bố mẹ chồng cũ của phụ nữ sau ly hôn .7: Kiểm định mối liên hệ giữa số năm ly hôn của phụ nữ. 61 và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc sau ly hôn .8: Kiểm định mối liên hệ giữa tình trạng kinh tế của phụ nữ sau ly hôn và mối quan hệ của họ với đồng nghiệp ở nơi làm việc .9: Kiểm định mối liên hệ giữa khu vực cư trú của phụ nữ sau ly hôn và việc nghĩ đến tái hôn .10: Tâm trạng của phụ nữ về cuộc ly hôn trong 12 tháng sau ly hôn .11: Kiểm định mối liên hệ giữa tỷ lệ phụ nữ vẫn buồn sau cuộc ly hôn và tỷ lệ phụ nữ cố tỏ ra vui vẻ trước mặt mọi người dù thực tế không phải vậy.
Tính cấp thiết của đề tài Ly hôn là sự tan rã của hôn nhân diễn ra ở mọi xã hội, mỗi xã hội lại chấp nhận vấn đề này ở mỗi mức độ khác nhau. Theo các nhà xã hội học, ở những xã hội truyền thống, nơi hôn nhân phục vụ lợi ích nhóm thân tộc, kiểm soát xã hội mạnh mẽ thì các cá nhân ít đòi hỏi trong đời sống hôn nhân nên khó ly hôn [3, 93]. Ly hôn chịu sự chi phối và bị quy định bởi các điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Trong chế độ phong kiến, ly hôn từng tồn tại như một đặc quyền của người đàn ông, là hệ quả của định kiến xã hội bất bình đẳng nam nữ.
Phụ nữ dễ bị chồng bỏ nhưng nếu vì lý do nào đó họ bỏ chồng thì sẽ bị cả xã hội lên án [25, 258]. Trong xã hội phương Tây hiện đại, nơi có tự do hôn nhân, hôn nhân ít mang ý nghĩa xã hội hơn. Ở xã hội này, hôn nhân là chuyện riêng của cá nhân, con người nhấn mạnh sự thỏa mãn về tình cảm và tính dục hơn là con cái. Họ kỳ vọng nhiều hơn ở nhau nên khi kỳ vọng không thực hiện được sẽ dễ thất vọng khiến họ rời bỏ cuộc hôn nhân không thỏa đáng để tìm sự mãn nguyện ở mối quan hệ khác.
Hơn nữa, sức ép từ họ hàng nhằm duy trì gia đình không còn nữa nên quyết định giữ hay từ bỏ hôn nhân phụ thuộc vào bản thân đôi vợ chồng nhiều hơn, do đó hôn nhân lỏng lẻo, dễ tan vỡ hơn. Đồng thời, luật ly hôn nới lỏng hơn ở nhiều xã hội cùng với sự độc lập về kinh tế và địa vị xã hội của phụ nữ được nâng cao đã góp phần làm tăng tỷ lệ ly hôn [3, 93]. Trong hệ thống tài liệu về ly hôn của Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu cùng hàng loạt những bài báo trên truyền thông về tình hình và nguyên nhân ly hôn. So sánh các đề tài trong mỗi thời điểm khác nhau cho thấy không có nhiều sự khác biệt về nguyên nhân ly hôn giữa các thời kỳ.
Nếu Nguyễn Thanh Tâm [27, 70 - 93], qua nghiên cứu trường hợp tiến hành năm 1998 – 1999, đã đưa ra các nguyên nhân thực tế dẫn đến ly hôn là ngoại tình, ích kỷ cá nhân, tính tình không hợp, bạo lực gia đình, ghen tuông, không có con trai, nguyên nhân kinh tế, ly hôn vì sự can thiệp của người nhà, mắc tệ nạn xã hội; Trần Thị Minh Thi [33, 143] nhận định ngoại tình, khó khăn về kinh tế, nghiện rượu, mâu thuẫn lối sống, bạo lực và bạo hành gia đình 1 là các lý do chính làm hôn nhân tan vỡ; thì Phan Thị Luyện [18, 295] chỉ ra những lý do khiến phụ nữ chấm dứt hôn nhân là tính tình không hợp, ngoại tình, ghen tuông, bạo lực gia đình, phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội, nguyên nhân kinh tế, ốm đau bệnh tật, không có con, mâu thuẫn với gia đình thông gia. Có thể nói, qua các năm, với các nghiên cứu, lý do ly hôn vẫn giữ nguyên như thế. Xã hội đã quá quen thuộc với các lý do gây ra ly hôn, nhưng tình trạng ly hôn không giảm bớt. Trần Thị Minh Thi [50, 106] trích dẫn số liệu thống kê tỷ lệ ly hôn tại Việt Nam tăng liên tục từ năm 2000 đến năm 2010, từ 51.929 vụ năm 2005, và tới năm 2010 đã lên đến 97.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ đứng đơn nhiều hơn nam giới. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng cục thống kê [35, 101] cho thấy, tỷ lệ ly hôn của nữ là 1,43% cao gấp 2,4 lần so với tỷ lệ ly hôn của nam là 0,59%; không chỉ ở tổng số mà ở tất cả các độ tuổi từ 15 – 19 tuổi đến trên 74 tuổi. Như vậy, mức độ ly hôn của nữ cao hơn khá nhiều so với nam, cả về số lượng cũng như tỷ lệ. Do nam giới có khả năng tái hôn cao hơn và có tỷ suất tử vong lớn hơn của nữ nên mới có sự chênh lệch lớn giữa hai giới như thế.
Theo số liệu của Tòa án nhân dân quận từ năm 2005 - 2010, Phan Thị Luyện [18, 81] cũng chỉ ra số phụ nữ đứng tên ly hôn chiếm tỷ lệ cao nhất ở tất cả các năm trong tổng số đơn được thụ lý và giải quyết tại Tòa. Nếu tính trung bình, phụ nữ là nguyên đơn chiếm 47,3%, trong khi nam giới là 23,4%, đơn chung chiếm 29,3%. Với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm [27, 93], tỷ lệ phụ nữ đứng đơn xin ly hôn trong mẫu phỏng vấn sâu ước tính lên tới 80%. Theo Lê Thi [32, 276], nguyên nhân là bởi hiện nay, phụ nữ không còn cam chịu bị chồng bắt nạt như trước đây.
Phụ nữ đã có sự hiểu biết hơn, được giác ngộ về quyền bình đẳng của mình trong gia đình nên không chịu đựng được sự bất công của người chồng. Họ có sự độc lập về kinh tế trong gia đình, có nghề nghiệp nên khi quyết định xin ly hôn, họ có khả năng tự lao động nuôi con cái một mình. Vì vậy, phụ nữ sau ly hôn là đối tượng rất cần được quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của ly hôn nhưng khía cạnh về quan hệ xã hội (QHXH) của phụ nữ sau ly hôn tuy có được đề cập đến nhưng chưa 2 cụ thể.
Trong khi đó, như Vũ Mạnh Lợi và Trần Thị Minh Thi đã nhấn mạnh, mạng lưới các mối quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình [16, 96]; quan hệ xã hội sẽ góp phần giúp phụ nữ vực dậy hoặc thêm phần hỗ trợ sau ly hôn. Do đó, đề tài lựa chọn chủ đề này để đem lại hướng nhìn mới về ly hôn cho độc giả, tạo nguồn tham khảo thực tiễn cho cộng đồng nói chung và cho những người đang có ý định ly hôn nói riêng; đồng thời góp phần giúp phụ nữ hòa nhập hơn với cuộc sống mới sau ly hôn. Theo đề tài, khi ly hôn vẫn còn là điều mà người ta không muốn phải nhắc lại, thì đó vẫn là một trong những vấn đề nhức nhối cần được giải quyết của xã hội.