CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN CUA ĐÈ TÀI 1. Khái niệm công cụ 1. Công tác xã hội Có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về công tác xã hội. Đề tài sẽ lựa chọn những định nghĩa phù hợp và liên quan, dưới đây là một số định nghĩa về CTXH: Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai định nghĩa: “Công tác xã hội có thể hiểu là một nghệ, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đông nâng cao năng lực đáp ứng nhu cau và tăng cường chức năng xã hội, đông thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng dong giải quyết và phòng ngừa các vấn dé xã hội góp phần dam bảo an sinh xã hội.
” [Bùi Thị Xuân Mai, 2014, tr6] Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia của nhân viên CTXH Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành dé giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng dong tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó ”. Theo Đề 32 “Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020” của Thủ tướng Chính phủ năm 2010 đã xác định: “CTXH góp phan giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”. Như vậy có thể hiểu Công tác xã hội là một nghé, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ các cá nhân, nhóm và cộng đồng nâng cao năng lực giải quyết van dé, từ đó hướng đến phát triển những mục tiêu bền vững. Khai niệm ly hôn Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
14 Nếu kết hôn là kết quả của một tình yêu, là việc hình thành quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính thì ly hôn là trường hợp trái ngược với hôn nhân, là việc cham dứt mối quan hệ đó về mặt pháp lý theo luật Hôn nhân va gia đình. Định nghĩa về ly hôn được quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình như sau: Ly hôn là việc chấm đứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Qua từng hoàn cảnh lịch sử sẽ có những quan điểm khác nhau về van dé ly hôn. Thứ nhất, giai đoạn xã hội phong kiến ở Việt Nam, con người luôn coi trọng tình cảm, yêu thương của các thành viên trong gia đình, sự thủy chung của vợ chồng và không ngoại trừ tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”.
Và pháp luật phong kiến nhận định người phụ nữ đúng nghĩa là phải theo chồng, chồng có thé bỏ vợ, nhưng vợ không được quyền tuyệt giao với người chồng, nếu người vợ bỏ nhà chong ra đi khi có những mâu thuẫn, xung đột thì hành động này sẽ bị trừng tri nghiêm khắc, bị cộng đồng khinh bi. Đối với việc ly hôn ở xã hội phong kiến nước ta, quy định nếu xảy ra việc ly hôn là do lỗi của người vợ và người chồng nhưng chủ yếu là lỗi của người vợ, khi người vợ phạm vào một trong bảy điều thất xuất thì người chồng bắt buộc phải bỏ vợ theo Điều 138 Quốc triều Hình Luật: “Toi thất xuất gốm: vô tu, ghen tuông, ác tật, dâm đãng, không kính cha mẹ, lắm lời, trộm cắp ” [Nguyén Ngoc Nhuan va cong su, 2003, tr104]. Quan điểm ly hôn dưới chế độ phong kiến thé hiện rõ sự bất bình đăng trong hôn nhân, hạn chế những quyền lợi của người vợ và đặc biệt là dư luận xã hội thời phong kiến luôn có ác cảm, khinh bỉ với những người phụ nữ đỗ vỡ trong hôn nhân, vì vậy, đã số phụ nữ thời phong kiến sẽ phải chịu đựng cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự hội nhập quốc tế, pháp luật nước ta đã đề cao sự tự do trong hôn nhân.
Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu: “chấm đứt mối quan hệ vợ chồng do Tòa an nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu câu cua vợ hoặc chong hodc ca hai vợ chong” [19, tr460]. Theo định nghĩa này, ly hôn có thé hiểu theo hai hình thức khác nhau đó chính là thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn, trường hợp 15 thuận tình ly hôn là do yêu cầu của hai bên vợ chồng cùng đồng ý, tự nguyện ly hôn và hoàn tất các thủ tục theo quyết định của pháp luật. Còn đơn phương ly hôn theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyên, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thê kéo dai, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, những vụ ly hôn xảy ra sẽ có những quan điểm, nhìn nhận khác nhau về vấn đề này.
Khi một cuộc hôn nhân thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, xung đột thậm chí là việc bạo lực gia đình, khiến họ không thể sống chung được nữa, thì việc ly hôn sẽ được nhìn nhận dưới khía cạnh tích cực, chính là chấm dứt tình trạng đau khô về tinh thần, thé xác cho những người liên quan. Bên cạnh đó, việc ly hôn sẽ có nhiều tác động tiêu cực, sự đau khổ và ton thương của một cuộc hôn nhân đồ vỡ dé lại cho người phụ nữ, người đàn ông thậm chi là những đứa trẻ, sự bap bênh trong vấn đề kinh tế khi thoát khỏi sự ràng buộc, trách nhiệm của cả hai người, cùng những ánh mắt và sự bàn luận của cộng đồng. Nhìn chung, sẽ có những mâu thuẫn, xung đột dẫn đến họ phải đưa ra quyết định ly hôn, thì những người trong cuộc sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực mà cuộc hôn nhân đó để lại. Hiện nay, pháp luật nước ta công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của các cặp vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn.
Pháp luật không thé bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, yêu thương và trách nhiệm, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm của họ đã hết và mục đích hôn nhân đã không thé dat được. Van dé tự do ly hôn chính đáng thể hiện rất rõ trong Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013 quy định “Nam, nữ có quyên kết hôn và ly hôn”. Như vậy, việc ly hôn được coi là tất yêu, khách quan khi hôn nhân đã tan rã. Theo tac giả Tran Văn Trạch trong bài viết “Ly bồn ở Da Nẵng: Nguyên nhân và những van dé đặt ra đối với hệ thống thiết chế xã hội” đã đề cập: Ly hôn là một hiện tượng xã hội kha phức tap và nó mang hai chiêu hướng vừa tích cực vừa 16 tiêu cực.
Và ly hôn cũng là một hiện tượng xã hội phổ biến. Mỗi vụ ly hôn là sự tuyên bố về một gia đình tan vỡ và là sự bất lực của các cặp vợ chồng trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc [Trần Văn Thạch, 2012, tr77]. Theo quan điểm này ly hôn được hiểu đơn giản hơn về sự tan vỡ trong hôn nhân và không đạt được đích hạnh phúc trong hôn nhân của các cặp vợ chồng. Khai niệm phụ nữ và phụ nữ sau ly hôn ° Khái niêm phụ nữ: Đây là một khái niệm không còn xa lạ trong cuộc sống.
Nếu giải thích theo khoa học thì phụ nữ là chỉ giống cái của con người ở giai đoạn trưởng thành, đã phát triển hoàn chỉnh cả về tâm lý và sinh lý. Cụ thể hơn theo định nghĩa “Phụ nữ là một khái niệm chung dé chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.” [Bùi Thị Mai Đông, 2017, tr57] Theo tác giả Lê Thị đưa ra khái niệm về phụ nữ như sau “Phụ nữ chi mot, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trần trọng nhất định từ phía người sử dụng. Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt hoặc ít nhất là không xấu đến những giá trị, đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này” [Lê Thi, 2004, tr98].
Với quan điểm này, khái niệm phụ nữ được phân tích từ góc độ xã hội, dé cao những giá tri tốt đẹp của phụ nữ trong xã hội và cho thấy phụ nữ là lực lượng cần được trân trọng, tôn vinh. Dưới góc độ hôn nhân, là sự kết hợp của một người chồng chính là người đàn ông và một người vợ là một người phụ nữ dưới các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình. Với cách nhìn toàn diện, Bác Hồ đã từng nhấn mạnh rằng “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội”, và phụ nữ là một lực lượng không thé thiếu trong xã hội. ° Khái niệm phụ nữ sau ly hôn: Phụ nữ sau ly hôn được hiểu đơn giản là những người phụ nữ đã từng kết hôn, trải qua một thời gian chung sông và trách nhiệm, có nảy sinh những mâu 17 thuẫn, xung đột không thé giải quyết khiến hôn nhân của họ đồ vỡ dẫn đến kết quả ly hôn - chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Những người phụ nữ này, họ vừa trải qua một cuộc hôn nhân không được viên mãn hay không đáp ứng được nhu cầu bản thân từ cuộc hôn nhân đó, có khi họ còn bị bạo hành cả thé xác lẫn tinh thần, cuộc hôn nhân đó họ không có tiếng nói chung hay mâu thuẫn với gia đình nhà chồng.