CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm về năng lực và vấn đề phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm về năng lực Hiện nay trên thế giới khi nói về năng lực có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng chủ yếu chia ra làm hai trường phái là định nghĩa theo trường phái của Anh và định nghĩa theo trường phái của Mỹ. - Năng lực theo trường phái của Anh là tổng hòa của 3 yếu tố: Kiến thức, kỹ năng và thái độ.
- Năng lực theo trường phái của Mỹ năng lực là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá nhân có thể giúp hoàn thành nhanh chóng công việc hay hành động nào đó một cách hiệu quả. Phần lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài đều quy năng lực vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility). Cụ thể: - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OECD) (2002) đã xác định năng lực “là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [16, tr. - Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “khả năng thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt trong các tình huống cuộc sống” [18,tr.
- Chương trình Giáo dục trung học bang Quebec, Canada năm 2004 xem năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực [16, tr. Weinert (2001) lại cho rằng năng lực là “tổng hòa các khả năng và kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sang của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hoạt động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [20, tr. Việc hiểu năng lực theo hướng là một khả năng cho thấy tầm bao quát của khái niệm năng lực có hàm chứa cả các khái niệm về tư chất, năng khiếu, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài năng và thiên tài. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm về năng lực.
Như: - Theo Nguyễn Quang Uẩn thì : “Năng lực là những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu và đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”.70] - Theo tác giả Nguyễn Minh Phương (2007): “năng lực cần đạt của học sinh THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả” [11, tr. Dù theo quan điểm nào năng lực không mang tính chung chung mà đều phải gắn liền với những hoạt động cụ thể của mỗi cá nhân. Từ những tiếp cận trên, có thể định nghĩa rằng: Năng lực là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất và thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Năng lực của học sinh THPT Năng lực cần đạt của HS THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả.
Các đặc điểm của năng lực - Năng lực tồn tại dưới hai hình thức: Năng lực chung (key competency) và năng lực chuyên biệt (domain – specific competency). Năng lực chung là năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Năng lực này cần thiết cho tất cả mọi người. Năng lực chuyên biệt (ví dụ như chơi ghi-ta.
) chỉ cần thiết với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định.Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế các năng lực chung. - Năng lực luôn đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo,. Như vậy không tồn tại loại năng lực chung chung. - Có sự tác động của của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội,.
) đề có một sản phẩm nhất định; do đó có thể 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân biệt người này với người khác. - Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả của hành động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó.
Quá trình dạy học, giáo dục nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào các hoạt động. - Năng lực được hình thành và phát triển xuyên liên tục trong suốt cuộc đời của con người vì sự phát triển năng lực thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động cá nhân chứ không đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ. Do đó năng lực có thể bị yếu hoặc mất đi nếu chúng ta không tích cực rèn luyện thường xuyên. - Các thành tố của năng lực thường đa dạng vì chúng quyết định tùy theo yêu cầu kinh tế xã hội và đặc điểm quốc gia, dân tộc, địa phương.
Năng lực của HS quốc gia này có thể khác với năng lực HS của quốc gia khác. Cấu trúc của năng lực Để có thể hình thành được những giải pháp giúp phát triển năng lực cho học sinh ta cần biết được cấu trúc của năng lực. Cấu trúc năng lực giống như một tảng băng gồm hai phần: cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu được thể hiện dưới dạng minh họa sau Hình 1.1 Sơ đồ biểu diễn cấu trúc năng lực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ cấu trúc này ta thấy rằng để hình thành, phát triển năng lực cho HS, việc dạy học trong nhà trường không chỉ dừng ở việc nhiệm vụ trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trở thành hiểu biết thực sự của mỗi HS; làm cho những kĩ năng được rèn luyện trên lớp được thực hành, ứng dụng trong đời sống ngay trên ghế nhà trường làm cho thái độ sống được giáo dục qua mỗi bài học có điều kiện, môi trường để bộc lộ, để hình thành, phát triển qua các hành vi ứng xử, trở thành phẩm chất bền vững của mỗi HS. Việc kiểm tra đánh giá, vì vậy sẽ phải chuyển từ kiểm tra kiến thức, thao tác kĩ thuật và nhận thức tư tưởng đơn thuần sang đánh giá sự hiểu biết, khả năng thực hành - ứng dụng và hành vi ứng xử của HS trong cuộc sống.
Khái niệm phát triển năng lực Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong.nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [10, tr. Trong Triết học Mác nguyên lý phát triển thừa nhận mọi sự vật vận động không ngừng, không ngừng chuyển hóa lẫn nhau để tạo ra cái mới cái chưa hề có.
Cái mới này là kết qủa tất yếu của quá khứ, là sự kế thừa của quá khứ theo phương thức phủ định hay nói cách khác, hay nói cách khác cái mới không tự nảy sinh từ bản thân nó mà nảy sinh nhờ phủ định cái trước nó rồi tự hoàn thiện mình trên cơ sở của chính mình. Một cái mới đồng thời là phương thức vận động mới. Vậy, phát triển năng lực theo tác giả là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm. Việc phát triển năng lực đều phải dựa trên các nguyên tắc chung về tính mục đích, tính thực tiễn, có sự kiểm tra, tính đánh giá và phức tạp dần của các nhiệm vụ, rèn luyện một cách thường xuyên và hệ thống.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhân tố quan trọng nhất trong việc phát triển năng lực là ôn tập và ứng dụng một cách có hệ thống các biện pháp hình thành năng lực. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả vẫn là ý chí hoàn thiện năng lực và mục đích cá nhân. Những năng lực chung cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Quá trình dạy học nói chung cần hình thành và phát triển các năng lực chung cho học sinh trung học phổ thông như sau: - Tự học: là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định đúng đắn các mục tiêu học tập, lệp kế hoạch và thực hiện cách học; và đánh giá, điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu một cách có hiệu quả và chất lượng. - Giải quyết vấn đề và sáng tạo: là năng lực biểu hiện thông qua việc phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất và lựa chọn; thực hiện và đánh giá được các giải pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai các ý tưởng mới; và có tư duy độc lập.
- Thẩm mỹ: là năng lực biểu hiện thông qua các hành vi nhận ra cái đẹp; diễn tả giao lưu thẩm mỹ; và tạo ra cái đẹp. - Thể chất: là năng lực biểu hiện thông qua cuộc sống thích ứng và hài hòa với môi trường; rèn luyện sức khỏe thể lực; và nâng cao sức khỏe tinh thần. - Giao tiếp: là năng lực thông qua việc xác định mục đích giao tiếp; kỹ năng thể hiện thái độ giao tiếp; lựa chọn và sử dụng phương thức giao tiếp dựa trên nền tảng kỹ năng sử dụng tiếng Việt và ngoại ngữ. - Hợp tác: là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục đích và phương thức hợp tác, trách nhiệm và hoạt động của bản thân trong quá trình hợp tác, nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác.
- Tính toán: là năng lực biểu hiện thông qua khả năng sử dụng các phép tính và đo lường cơ bản; sử dụng ngôn ngữ toán; và sử dụng các công cụ tính toán.