Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1.Những vấn đề liên quan đến giáo dục và đào tạo 1. Thực trạng của giáo dục Việt nam hiện nay [15] 1. Những thành tựu đạt được của nền giáo dục Việt Nam Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho đất nước. Nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng tốt hơn: Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục theo các cấp học ở mọi vùng, miền với đa dạng loại hình trường lớp.
Chương trình, SGK hiện hành đã và đang được đổi mới nhờ đội ngũ các nhà khoa học, nhà sư phạm, cán bộ quản lý, giảng viên sư phạm, giáo viên giỏi, am hiểu và có nhiều kinh nghiệm về giáo dục phổ thông tham gia xây dựng, biên soạn và thẩm định chương trình, SGK. Nền giáo dục ngày càng đa dạng và phong phú về các ngành và hình thức đào tạo, chất lượng đào tạo và cơ sở vật chất cũng được chú trọng và nâng cao. Đặc biệt về phương diện công nghệ, với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tin và các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú đã giúp ích rất nhiều cho công việc dạy và học. Rất nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng trước đây thầy và trò tốn rất nhiều công sức để truyền đạt và tiếp thu thì nay nhờ có công nghệ thông tin các công việc này trở nên nhẹ nhàng hơn.
Học sinh không những có thể tìm kiếm thông tin hữu ích cho việc học trên Internet mà còn có sự lựa chọn mới đó là học trực tuyến. Giáo dục Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng trong các mục tiêu chiến lược (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài): Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, năm 2015, tổng số học sinh, sinh viên cả nước khoảng 22,21 triệu (tăng so với năm học trước 337. Hệ thống mạng lưới các cơ sở giáo dục các cấp học, bậc học được phân bố rộng trên phạm vi cả nước. Tổng số trường học từ mầm non đến đại học là 43.874 trường (tăng 307 trường.
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy mô đào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần dần được đổi mới. Nền giáo dục đại học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam một mặt đã đáp ứng xu hướng thế giới là tiến tới phổ cập giáo dục đại học, mặt khác vẫn giữ nền tảng giáo dục tinh hoa. Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn: Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích giáo dục như chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục đã tạo được sự công bằng trong tiếp cận học tập cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi và mọi dân tộc ở các vùng miền khác nhau. Có những chính sách quan tâm thiết thực tới con em gia đình chính sách, những trẻ em gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các con em dân tộc thiểu số.
- Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến bước đầu: Khi học sinh nước ta tham gia các kì đánh giá và thi học sinh giỏi quốc tế thì đạt nhiều kết quả cao. Kết quả đánh giá PISA 2015 được thể hiện trong sơ đồ hình .1 :Năng lực học sinh Việt Nam so với trung bình chung toàn khối OECD. - Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được tăng cường: Cơ sở vật chất được đầu tư và quan tâm nhiều hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu căn bản phục vụ cho giáo dục. Có nhiều chương trình tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV, đồng thời có những bước ngoặt trong vấn đề cải cách và đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Những hạn chế, tồn tại của nền giáo dục Việt Nam Công tác giáo dục và đào tạo trong những năm qua đạt được nhiều thành tựu, có nhiều bước đổi mới. Tuy nhiên, trước những biến đổi to lớn của nền kinh tế, sự nghiệp giáo dục - đào tạo đang gặp phải những khó khăn rất lớn, biểu hiện qua những vấn đề sau: Vấn đề về chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên chưa đồng bộ. Việc xây dựng và đổi mới chương trình còn cắt khúc: cấp Tiểu học tiến hành năm 1996, cấp Trung học cơ sở năm 1998, cấp Trung học phổ thông năm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2000 mới xây dựng Đề án tổng thể. Đổi mới giáo dục phổ thông không được thực hiện đồng bộ với việc đào tạo, bồi dưỡng GV và cán bộ quản lý.
Do đó, đội ngũ này vừa thừa, vừa thiếu, không bắt kịp yêu cầu đối mới của chương trình mới. Hàng năm, công tác bồi dưỡng GV được tổ chức thường xuyên nhưng chưa sát thực với các yêu cầu cốt lõi của chương trình, hiệu quả công tác bồi dưỡng còn thấp. Kèm theo đó là việc hướng dẫn vận dụng chương trình tùy theo đặc điểm từng vùng địa phương chưa cụ thể và rõ ràng. Chương trình giáo dục chưa thực sự chú trọng đến tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, chưa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, khuynh hướng nghề nghiệp của HS và nguồn nhân lực của đất nước.
Các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục còn nhiều bất cập: Cơ sở hạ tầng giáo dục hiện nay của Việt Nam còn rất yếu kém; Trường học không những còn thiếu mà còn cũ kỹ, xuống cấp, không an toàn ở những vùng khó khăn; hệ thống sách thư viện nghèo, các thiết bị phục vụ thực hành như phòng máy vi tính, thí nghiệm Vật lý, Hóa học đã hết hạn sử dụng, hoặc mới cấp nhưng chất lượng không đảm bảo, không đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học của GV cũng như HS. Yếu kém trong quản lý giáo dục, phương pháp giáo dục lạc hậu chậm đổi mới: Thực tế cho thấy, một bộ phận cán bộ quản lý do công tác lâu năm tại nhà trường nên bổ nhiệm để động viên trước khi về hưu ở những vùng khó khăn hoặc giáo viên là con, em, vợ hoặc chồng của lãnh đạo quản lý nhà nước được bổ nhiệm chức vụ quản lý không đúng quy trình dẫn tới năng lực quản lý rất nhiều hạn chế, nếu có sai phạm thì luôn được bao che của các cán bộ quản lý các cấp và không bị xử lý nghiêm minh dẫn đến mất đi lòng tin và sự coi thường nhà giáo từ người dân, phụ huynh và HS. Những giáo viên ở tuổi trên 50 rất tự tin về kinh nghiệm nghề của bản thân, không thật sự tâm huyết với nghề, lấy nghề giáo là chỗ dựa để tham gia các hoạt động kinh tế ngoài xã hội, ngại cặp nhật thông tin đổi mới của giáo dục và thường có câu cửa miệng “biết rồi, khổ lắm nói mãi” hoặc “chúng nó dốt, đổi mới phương pháp làm gì, nước đổ lá khoai”… làm cho các tiết dạy ngày càng khô khan, không thu được kết quả rõ nét sau mỗi giờ học. Một số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm được giải quyết (dạy thêm học thêm, mua bán văn bằng, bệnh thành tích,.): Hiện nay căn bệnh thành tích đang lan tràn trong giáo dục và trong xã hội.
Tác giả của căn bệnh này không chỉ là 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các thầy cô, nhà trường mà còn là của chính phụ huynh và HS. Nhà trường chạy đua với thành tích nên dẫn đến các thầy cô phải đảm bảo các con số tỉ lệ, những con số này cũng chính là yếu tố để đánh giá kết quả lao động của GV hàng năm. Không chỉ là GV và nhà trường mà chính các bậc phụ huynh cũng gây nên căn bệnh thành tích này, bởi các bậc cha mẹ muốn con em mình có được kết quả cao để xin vào những lớp hay những trường được xem là có tiếng hơn. Căn bệnh thành tích đã có từ rất lâu và xu hướng ngày càng gia tăng trầm trọng.
Hiện nay Bộ giáo dục đã đưa ra quy định về dạy thêm, học thêm nhằm hạn chế tình trạng tiêu cực trong giáo dục. Tuy nhiên, các nhà trường không thể ngăn chặn được vì thiếu chế tài xử phạt, các cơ quan quản lý thì làm ngơ… Một vấn đề nổi cộm nữa là việc có nhiều đường dây mua bán văn bằng bị phát hiện. Có nhiều tổ chức giáo dục đào tạo không chất lượng, chủ yếu mục đích là hợp lý hóa cho những người đang có công việc nhưng muốn nâng cao bằng cấp, đáp ứng yêu cầu bổ nhiệm quản lý… Vấn đề cải cách giáo dục: Nhà nước và bộ giáo dục đã dành sự đầu tư thích đáng cho các dự án cải tạo giáo dục nhưng những kết quả đạt được thì vẫn chưa được như mong đợi. Thực hiện chính sách xã hội về giáo dục còn nhiều bất cập: Con em gia đình nghèo, gia đình có thu nhập thấp và con em đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, nhất là ở các bậc học cao.
Những chính sách nhằm khuyến khích giáo dục không được đến đúng đối tượng, đúng người, đúng chính sách thì không được hưởng do công tác quản lý không chặt chẽ, tạo kẽ hở cho những người thực thi chính sách. Các chính sách ưu đãi GV không cao, mức lương còn thấp cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng GV không tâm huyết với nghề nghiệp và ép HS đi học thêm để tăng thêm thu nhập. Định hướng đổi mới giáo dục sau 2015[11] 1. Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ứng dụng khoa học công nghệ…; tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân.
Tuân thủ quy định về chương trình, sách giáo khoa tại Luật Giáo dục. Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011– 2020. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài ḥòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp Thực hiện đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực HS tương thích với từng cấp học và từng lĩnh vực học tập/ môn học/ hoạt động giáo dục.