Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN HOẠT DONG BẢO LÃNH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Téng quan về bảo lãnh ngân hang 1. Lịch sử hình thành và phát triển của bảo lãnh: ngân hàng Nền kinh tế càng phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng của hoạt động giao lưu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thương mại. Các giao dịch ngày càng phát triển về mặt số lượng, giá trị, độ phức tạp và được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Đặc biệt, trong thương mại quốc tế các giao dịch diễn ra có sự ngăn cách vẻ thời gian, không gian, hệ thống pháp luật, điều kiện thị trường. làm cho các loại rủi ro càng gia tăng như: rủi ro không thực hiện hợp đồng, rủi ro tín dụng. để phòng ngừa rủi ro bên giao hàng hoá thường yêu cầu bên nhận hàng hoá phải có bảo lãnh của bên thứ ba (bên thứ: ba thường là người có uy tín, có tiềm lực tài chính.) và như thế hoạt động. bảo lãnh ra đời Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời kỳ cỗ Hy Lạp trong những giao dich nhỏ lẻ, dù rất sơ khai.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng. bắt đầu được sử dụng tại các nước Tây Âu và Hoa Kỳ. Đến những năm 70 thương mại mậu dịch quốc tế ngày càng phát triển đã làm gia tăng nhu cầu đa dạng hoá và hợp pháp hoá công cụ tài trợ và đảm bảo quốc tế có tính linh. hoạt, được tin tưởng phủ hợp với tập quán quốc tế và không trái với luật pháp quốc gia, ngoài phương thức tín dụng chứng từ truyền thống.
Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng được yêu cầu này và được sử dụng ngày càng phô biến. Ngày nay, BLNH được sử dụng rất rộng rãi và đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới. Doanh số bảo lãnh ngân hàng tăng nhanh chóng. Không chỉ được sử dụng.
trong mọi lĩnh vực các nước phát triển, bảo lãnh ngân hàng còn là phương. tiện đảm bảo khá phố biến trong các giao dịch kinh tế và dân sự ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, hầu hết các giao dịch quốc tế lớn đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng. Tại Việt Nam, trước năm 1975, một số ngân hàng thuộc chế độ cũ ở Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ BLNH.
Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động này được thực hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Đến những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu mở. cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thể giới, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh ngân hàng được phát triển như một yếu tố khách quan. 'Từ những năm 1994-1995, hoạt động bảo lãnh dẫn được hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất.
Những năm sau đó, cùng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước, bảo lãnh ngân hàng đã nhanh chóng phát triển. Tỷ lệ tăng trưởng hằng năm về doanh số và dư nợ bảo lãnh của các NHTM ngày càng gia tăng. Các hình thức bảo lãnh được áp dụng ngày càng đa dạng, với doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ nay trong nên kinh tế nước ta là rất lớn. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tô chức Thương mại Thể giới (WTO), cơ hội hợp tác và mở.
rộng thương mại quốc tế ngày càng nhiều, cùng với đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính — ngân hàng ngày cảng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho. hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân hàng nói riêng phát triển. Bảo lãnh ngân hàng. Khái niệm bảo lãnh Theo điều 361 Bộ luật đân sự số 33/2005/QH 11 ngày 14/6/2005 khái niệm bảo lãnh được xác định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo.
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Khải êm bảo lãnh ngân hàng. Có thể nhìn nhận bảo lãnh NH dưới các góc độ sau: Xét theo khía cạnh thương mại quốc tế, bảo lãnh NH được xem như.
một loại hình tài trợ thương mại nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh do sự vi phạm nghĩa vụ của phía đối tác. Theo luật các tô chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Bảo lãnh NH là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng. văn bản của tô chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết”. Theo luật các TCTD điều 20 định nghĩa: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyển (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho. TCTD sé tién da nhan tra thay”. Hình thức của BLNH là hợp đồng bảo lãnh hay còn gọi là thư bảo lãnh. Thư bảo lãnh là cam kết bằng văn bản giữa khách hàng và ngân hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
Như vậy, BLNH là cam kết bằng văn bản, là hình thức cấp tín dụng bằng chữ kí, tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không trực tiếp xuất vốn mà chỉ dùng khả năng tài chính và uy tín của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã cam kết từ trước. Vậy, trong giới hạn mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo lãnh ngân hàng do NHTM phát hành. Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng Trong một bảo lãnh ngân hàng bao giờ cũng có ít nhất ba bên liên quan: ~ Bên bảo lãnh (ngân hàng báo lãnh): NHTM phát hành cam kết bảo lãnh. Đó thường là NHTM có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết và được người thụ hưởng chấp nhận.
Có thể là một NHTM phục vụ bên được bảo lãnh hoặc nhiều NHTM tham gia. - Bên xin bảo lãnh hay bên được bảo lãnh: Là khách hàng được ngân hàng bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là tô chức, cá nhân trong hoặc ngoài nước có đủ điều kiện để được ngân hàng bảo lãnh. - Bên thụ hưởng hay bên nhận bảo lãnh: Là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyển thụ hưởng bảo lãnh của NHTM.
Ngoài ra, có thể còn có các bên liên quan khác: Bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh, bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hang + Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng: 'Hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu, đơn dự thầu. mối quan hệ này, bên được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện cam. kết với bên nhận bảo lãnh. + Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và NHTM bảo lãnh: Dựa vào quan hệ gốc giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, NHTM phát hành cam kết bảo lãnh theo yêu cầu của bên được bảo lãnh.
Mối quan hệ này được thể hiện thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh. Đây là văn bản thoả thuận giữa NHTM với bên được bảo lãnh và các bên liên quan (nếu có) về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của NHTM. Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho bên nhận bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh. + Quan hệ giữa NHTM bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh.
vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Quan hệ này thể hiện thông qua cam kết bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của 'NHTM, được phát hành dưới dạng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh. Thư bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của NHTM, còn hợp đồng bảo.
lãnh: Là thuận bằng văn bản giữa NHTM và bên nhận bảo lãnh, hoặc giữa 'NHTM, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và các bên liên quan, về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Một số đặc ẫm cơ bản của bảo lãnh ngân hàng 1. Bảo lãnh ngân hàng là mi quan hệ nhiều bên phụ thuộc Tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất 3 chủ thể, đó là: Bên phát hành bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên thụ hưởng). Các chủ thể tham gia có mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng là: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh.
Cụ thể như sau Bên bảo lãnh. Bên được bảo lãnh — |g @ >| Bên nhận bảo lãnh Sơ đồ 1. Mối quan hệ các bên trong bảo lãnh ngân hàng. CĐ đồng kinh tế: Trước hết hoạt động bảo lãnh được phát sinh trong mối quan hệ kinh tế giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Hai chủ thể này thoả thuận, kí kết hợp đồng kinh tế. Trong đó, bên nhận bảo lãnh yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh và chỉ khi bên được bảo lãnh. đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng thì bảo lãnh mới được xác lập. Từ đó phát sinh ra các mối quan hệ tiếp theo.
@ Hợp đồng bảo lãnh: Quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh thông qua hợp đồng bảo lãnh hay là mối quan hệ giữa ngân hàng cắp tín dụng và bên hưởng tín dụng.