Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Phương pháp nghiên cứu 4 Chương 3: Thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm, tiêu chí và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho đến nay, ở nước ta còn nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các khái niệm được sử dụng trên thực tế hiện nay chỉ là khái niệm của các ngành, địa phương, tổ chức đưa ra nhằm phục vụ cho mục đích của mình. Trong số các khái niệm về DNNVV hiện nay ở nước ta tồn tại một số khái niệm trong đó: Thông tư 05/2002/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là các chủ thể sản xuất kinh doanh được thành lập theo các qui định của pháp luật có qui mô về vốn và / hoặc số lao động phù hợp với qui định của Chính phủ” Theo khái niệm này thì DNNVV ở Việt Nam không phân biệt thành phần kinh tế, bao gồm: - Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa được thành lập và đăng ký theo Luật Doanh nghiệp. - Các hợp tác xã có qui mô nhỏ và vừa được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính Phủ về định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 6 Bảng 1.1: Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam theo nghị định 56 Nguồn: Nghị định số 56/2009 của CP Căn cứ Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính Phủ, thì khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào vào yếu tố sau: Bảng 1.2: Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam theo nghị định 39/2018 DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Ngành Lao Nguồn Doanh Lao Nguồn Doanh Lao Nguồn Doanh nghề động vốn thu động vốn thu động vốn thu Nông nghiệp, Dưới Dưới Dưới công Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới 10 100 200 nghiệp, 3 tỷ 10 tỷ 20 tỷ 50 tỷ 100 tỷ 200 tỷ người người người xây dựng Thương Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới Dưới mại và 10 50 100 3 tỷ 10 tỷ 50 tỷ 100 tỷ 100 tỷ 300 tỷ dịch vụ người người người Nguồn: Nghị định số 39/2018 của CP 7 Từ khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trên có thể phân tích cụ thể khái niệm với các lĩnh vực như sau: - Thứ nhất, lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Công nghiệp và Xây dựng. “Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Công nghiệp và Xây dựng là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 20 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp vừa, hoặc số lao động trung bình hàng năm tham gia BHXH không quá 100 người đối với doanh nghiệp nhỏ và 200 người đối với doanh nghiệp vừa, hoặc tổng doanh thu của năm không năm không quá 50 tỷ đối với doanh nghiệp nhỏ và không quá 200 tỷ đối với doanh nghiệp vừa” (Chính phủ, 2018) - Thứ hai, lĩnh vực Thương mại và Dịch vụ : “Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực Thương mại và dịch vụ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 50 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp vừa, hoặc số lao động trung bình hàng năm tham gia BHXH không quá 50 người đối với doanh nghiệp nhỏ và 100 người đối với doanh nghiệp vừa, hoặc tổng doanh thu của năm không năm không quá 100 tỷ đối với doanh nghiệp nhỏ và không quá 300 tỷ đối với doanh nghiệp vừa” (Chính phủ, 2018) 1.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa rất quan trọng để xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ. Nếu đối tượng được hỗ trợ quá rộng sẽ không đủ sức bao quát và tác dụng hỗ trợ sẽ giảm đáng kể. Còn nếu phạm vi đối tượng được hỗ trợ quá hẹp sẽ không có ý nghĩa và ít có tác dụng trong nền kinh tế và do đó không thể kịp thời hỗ trợ cần thiết các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính vì thế hầu hết các nước đều rất chú trọng 8 nghiên cứu tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên không có tiêu thức thống nhất để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước khác nhau. Và ngay trong một nước sự phân loại cũng khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ từng ngành nghề và vùng lãnh thổ. Có hai tiêu chí phổ biến để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Doanh nghiệp đó là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít mức độ phức tạp của quản lý thấp, các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.
Do đó nó thường chỉ làm cơ sở để tham khảo kiểm chứng mà ít được sử dụng trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể sử dụng các tiêu chí như số lao động bình quân tham gia BHXH hàng năm, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu trong đó: - Số lao động tham gia BHXH là toàn bộ số lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả lương, trả công tham gia BHXH theo pháp luật về BHXH. Tiêu chí này được tính bằng tổng số lao động tham gia BHXH của năm chia cho số tháng trong năm và xác định căn cứ trên chứng từ nộp BHXH năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan BHXH. - Tổng nguồn vốn được xác định căn cứ trong bảng cân đối kế toán trên báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan thuế.
- Tổng doanh thu là tổng doanh thu cung cấp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan thuế.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế doanh nghiệp nhỏ và vừa có một vai trò hết sức quan trọng phát triển 9 kinh tế để giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thứ nhất, về mặt kinh tế a. Đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp kinh doanh với quy mô không lớn nhưng lại có khả năng rất năng động và nhạy bén trong các cơ hội kinh doanh. Hơn nữa doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng đáp ứng được những nhu cầu nhỏ lẻ của thị trường, chính vì thế các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đóng góp rất lớn vào kết quả hoạt động kinh tế, tạo môi trường tốt cho người lao động.
Bên cạnh đó, sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ trước tới nay, đã và đang được đánh giá là: góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người; bổ sung các giá trị gia tăng thực tế cho sản phẩm, tăng sản lượng sản xuất trong nền kinh tế; góp phần phát triển các chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị trong khu vực ASEAN và trên thế giới; giúp ổn định nền kinh tế, nhờ hoạt động dưới hình thức các nhà thầu phụ cho các tập đoàn và doanh nghiệp lớn; đóng góp tích cực cho ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ thông qua tăng cường chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất, v. Mặc dù vậy, loại hình doanh nghiệp này đã và đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển sản xuất và mở rộng kinh doanh. Tạo sự năng động và hiệu quả cho nền kinh tế Do số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh nên làm tăng tính cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế. Ngoài ra các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng thay đổi mặt hàng và công nghệ chuyển hướng kinh doanh nhanh chóng khi có những bất lợi ảnh hưởng tới quá trình kinh doanh, làm cho nền kinh tế năng động hơn.
Sự có mặt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế có tác dụng hỗ trợ các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn: Làm đại lý hoặc vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ 10 hàng hoá cung cấp các đầu vào như nguyên liệu, thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà các doanh nghiệp lớn không với tới được. Một điều quan trọng là vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đó phần lớn là khu vực tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai gần. Do vậy việc tăng các cơ số này càng làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai. Khai thác tiềm năng phong phú trong dân cư Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế không chỉ đóng góp vào hoạt động kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả mà còn khai thác được những tiềm năng rất phong phú trong dân cư.
Hiện nay còn nhiều tiềm năng trong dân như: Tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề quan hệ huyết thống, làng nghề với những hương ước nghề nghiệp.