Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của thanh tra. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động ở thanh tra huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra – Từ thực tiễn thanh tra huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. 9 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA 1.
Khái quát về Thanh tra 1. Khái niệm thanh tra Theo từ điển tiếng việt của viện ngôn ngữ học năm 2016 thì thanh tra có nghĩa là “kiểm soát, xem xét lại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [41, tr. Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm cả nghĩa kiểm soát. Ở nước ta thuật ngữ “Thanh tra” lần đầu xuất hiện tại Sắc lệnh 64/Sl ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thành lập Ban thanh tra đặc biệt.
Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một ban thanh tra đặc biệt, có ủy nghiệm là đi giám sát tất cả có công việc và các nhân viên của ủy ban nhanh dân và các cơ quan chính phủ” [6, tr. Từ sắc lệnh này, quyền thanh tra được xác lập và được giao cho chính phủ thực hiện. Sau đó khái niệm “thanh tra” được đề cập trong các bản Hiến pháp của nước ta và các văn bản pháp luật khác, khẳng định thanh tra là một hoạt động đặc biệt không thể thiếu trong quản lí nhà nước. Trong bài nói chuyện là Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc năm 1961, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định thanh tra là hoạt động “theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết.
chỉ thị của Đảng và Chính phủ” [9, tr. Văn bản pháp lí đầu tiên xác lập một cách đầy đủ và toàn diện về tổ chức và hoạt động thanh tra là pháp lệnh thanh tra năm 1990. Pháp lệnh đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và khẳng định thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lí nhà nước. Điều 1 pháp lệnh thanh tra quy định: “thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lí nhà nước: là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa” [10, tr.
10 Luan van Khái niệm thanh tra lần đầu tiên được định nghĩa trong luật thanh tra năm 2004 dưới khái niệm thanh tra nhà nước. Theo đó “Thanh tra nhà nước là việc xem xét đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan tổ chức cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh thanh tra hành chính và thanh tra chuyên nghành” [22, tr1] Luật thanh tra năm 2010 ra đời thay thế luật thanh tra năm 2004 cũng đưa ra định nghĩa về thanh tra tại khoản 1 điều 3 luật thanh tra 2010: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” [23, tr.
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Đặc điểm của thanh tra Thứ nhất, hoạt động thanh tra luôn gắn liền với quản lý nhà nước Với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước. Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của Nhà nước trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội.
Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tất 11 Luan van yếu phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hoà những hoạt động đơn lẻ và thực hiện những chức năng chung. Như vậy, việc xem xét, định hướng đánh giá kết quả quản lý là một phương diện của quản lý xã hội. Quản lý nhà nước là một bộ phận quản lý xã hội và ở đâu có quản lý nhà nước ở đó có thanh tra. Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, quy định về tổ chức, quyết định và kết luận thanh tra, sử dụng các kết quả, các thông tin từ phía các cơ quan thanh tra).
Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền. Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song xem xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là chức năng, là công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước. Về mối quan hệ giữa thanh tra và công tác quản lý nhà nước sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục III của chuyên đề này.
Thứ hai, thanh tra là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước. Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Vì vậy, thanh tra phải được Nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý.
Có thể nói, thanh tra là một hoạt động luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước. Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan nhà nước. Thanh 12 Luan van tra (ở đây được dùng với tính chất là một danh từ chỉ cơ quan có chức năng này) luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình tiến hành hoạt động của mình và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó. Thanh tra chỉ xuất hiện từ khi Nhà nước ra đời trong lịch sử và nó cũng sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước.
Tóm lại, chủ thể duy nhất tiến hành thanh tra là Nhà nước, thanh tra xuất hiện, tồn tại và tiêu vong cùng với Nhà nước. Ở các nước trên thế giới, dù mô hình tổ chức hoạt động thanh tra có khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm này. Ở nước ta, Điều 1 Pháp lệnh Thanh tra 1990 quy định: “thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa” [10]. Luật Thanh tra năm 2010 quy định: cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật [23].
Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ, các cơ quan thanh tra nhà nước có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó: - Quyết định tổ chức các cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt. - Trình thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. - Yêu cầu đối tượng thanh tra, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan. 13 Luan van - Niêm phong tài liệu, kiểm kê tài sản, trưng cầu giám định.
- Tạm đình chỉ hành vi vi phạm, tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép, thu hồi tài sản. - Xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật (đối với thanh tra chuyên ngành). - Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm sang cơ quan điều tra để xử lý. - Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra. Nếu chỉ chú trọng đến một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực trên đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra. Thứ ba, hoạt động thanh tra có tính khách quan.