Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Những vấn đề lý luận về giải trình cāa đối tượng thanh tra tra trong hoạt đáng thanh tra nhà nước Chương 3. Thực trạng giải trình cāa đối tượng thanh tra tra trong hoạt đáng thanh tra nhà nước trên đßa bàn tãnh Quảng Nam Chương 4.
Quan điểm và giải pháp tăng cưßng giải trình cāa đối tượng thanh tra tra trong hoạt đáng thanh tra nhà nước 10 Ch°¡ng 1 TàNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CĄU LIÊN QUAN Đ¾N ĐÀ TÀI LUÀN ÁN 1. Tình hình nghiên cąu trên th¿ giái liên quan đ¿n đÁ tài luÁn án 1. Tình hình nghiên cứu lý luận liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu về GT với thuật ngữ <Accountability= đã được nhiều hác giả quan tâm và xem xét dưới nhiều góc đá khác nhau. Để thấy rõ được tình hình nghiên cứu lý luận cāa vấn đề, NCS phân chia theo nhóm các nái dung như sau: a.
Tình hình nghiên cứu khái niệm GT của ĐTTT trong hoạt động TTNN Với tư cách tiếp cận là thuật ngữ <Accountability= đã có nhiều nghiên cứu nước ngoài xem xét, xây dựng và phân tích khái niám GT. Tiêu biểu có thể kể tới các tác giả với những nghiên cứu sau: - Nhóm các nghiên cứu GT trong hoạt đáng công vÿ nói chung với các nghiên cứu tiêu biểu sau: tiểu luận <Contracts, performance measurements, and accountability in the public sector= cāa tác giả Drewry, G và cáng sự [136]; bài viết <The dynamics of public sector accountability in an Era of reform= cāa tác giả B. Romzek [123]; bài viết <Accountability in the public sector: Lessons from the Challenger tragedy= cāa B. Dubnik [124] và bài viết <Public accountability A framework for the analysis and assessment of accountability arrangements in the public domain= cāa tác giả Mark Bovens [159]& các nghiên cứu kể trên đã xây dựng khái niám GT cāa cơ quan và cá nhân trong thi hành công vÿ nói chung.
Theo đó, GT được hiểu là khả năng cung cấp các thông tin khi được 11 yêu cầu trong khi thực thi pháp luật hoặc thực hián các trách nhiám công cáng. Khái niám được xây dựng theo cách tiếp cận này có phạm vi rất ráng và chã đề cập đến khả năng cāa viác cung cấp thông tin mà không phân tách thành các cấu thành khác cāa GT. Cÿ thể, các khái niám được công bố trên những nghiên cứu kể trên cho rằng GT là mát năng lực cāa các chā thể, năng lực này được xác đßnh thông qua khả năng hiểu, ghi nhớ và trình bày các nái dung thuác thẩm quyền công vÿ cāa mình và trả lßi nhanh chóng khi nhận được các yêu cầu từ những cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu. - Dưới góc đá nghiên cứu hẹp hơn khi xem xét khái niám GT trong mối quan há chức năng và bản chất với những cấu thành khác cāa hoạt đáng hành chính, các nghiên cứu cũng đã đưa ra được khái niám GT cāa mình.
Theo đó, GT được hiểu là mát hoạt đáng nghĩa vÿ hành chính (trong các nghiên cứu này quyền hành chính được hiểu là quyền hành pháp). Các chā thể thực hián thẩm quyền hành chính này phải có nghĩa vÿ cung cấp thông tin mát cách chā đáng hoặc bß đáng và mißn phí tới các cơ quan dân cử, toà án và công chúng. Các thông tin này nhằm công khai hoá các nái dung hoạt đáng cāa các chā thể nắm giữ quyền quản lý công cáng. Như vậy khái niám này không đề cập đến các khả năng cāa chā thể mà xác đßnh GT trước hết là mát nghĩa vÿ, mát bổn phận phải thực thi cāa cơ quan hành chính.
Nó là mát yêu cầu thưßng trực và không thể chối bỏ bằng những cách trốn tránh nghĩa vÿ cāa các chā thể. Tiêu biểu cho các nghiên cứu thuác nhóm khái niám này có thể kể tới: Tiểu luận <Public Administration: Balancing power and accountability= cāa tác giả McKinney B.L [160]; bài viết <Accountability and public administration: Concepts, dimensions, developments= cāa giáo sư Antonio Bar Cendón [115]; tiểu luận <Public accountability= cāa Mark Bovens [159]; bài viết <Public Management & Administration: An Introduction= cāa tác giả Hughes, O.E [148] và bài viết <What is public accountability?= cāa Auditor - General9s Office (AGO) Singapore [142]& 12 - Xem xét GT bao gồm viác giải thích và gánh chßu trách nhiám về hành vi. Đây là nái dung nghiên cứu được tiếp cận gần đây bái các nghiên cứu tiêu biểu sau: bài viết <The Reality of Reform and Accountability in today9s Public Service= cāa tác giả W. Waldegrave [166]; công trình nghiên cứu <To Serve and to Preserve: Improving Public Administration in a Competitive World=, cāa S.
Sundaram [163]; Báo cáo <Public Sector: Governance and Accountability Series Local governance in developing countries= cāa tác giả Anwar Shah [111]; bài viết <Public Service Accountability: A Comparative Perspective= cāa J. Dwivedi [150]; bài viết <Electoral Accountability and Corruption: Evidence from the audits of local governments= cāa tác giả Claudio Ferraz [132]& đã xây dựng khái niám GT gồm hai thành phần: khả năng giải đáp các thắc mắc và trách nhiám phải gánh chßu các hậu quả bất lợi. Khả năng giải đáp các thắc mắc là sự kßp thßi lý giải, cung cấp các thông tin khi được yêu cầu. Mÿc đích cāa hoạt đáng này là công khai và minh bạch thông tin quản lý.
Đây được xem là mát hoạt đáng thưßng xuyên trong thực thi công vÿ. Thành phần thứ hai trong khái niám GT là trách nhiám phải gánh vác các hậu quả bất lợi khi xảy ra những sai phạm trong quá trình thực thi công vÿ. Các nghiên cứu này khi phân tích khái niám đã chã ra rằng, hai cấu thành này trong khái niám GT có sự liên quan mật thiết với nhau, hoặc cÿ thể hơn đó là sự nối tiếp nhau. Tình hình nghiên cứu phân loại GT của ĐTTT trong hoạt động TTNN Nghiên cứu về phân loại GT cũng đã được nhiều công trình á phạm vi nước ngoài nghiên cứu.
Kết quả cho thấy, GT có mấy căn cứ phân loại sau: căn cứ vào nái dung có các phân loại thành GT trong tài chính công, GT trong giáo dÿc, GT trong y tế&; căn cứ vào đối tượng hướng tới có GT theo chiều dác và GT theo chiều ngang; căn cứ theo tính chất có GT chính trß, GT đạo đức và GT theo pháp luật. - Phân loại GT theo nái dung. Nhiều công trình nghiên cứu đã phân loại GT dựa vào nái dung cāa nó. Theo tư duy cơ bản nhất, giới hạn nái dung GT chính là 13 giới hạn nái dung thẩm quyền cāa cơ quan, cá nhân đó.
Chính vì vậy, GT cāa từng cơ quan, cá nhân được giao nhiám vÿ khác nhau là khác nhau. Tiêu biểu cho cách phân loại này bao gồm các nghiên cứu sau: - Phân loại theo tính chất có GT theo chiều dác và GT theo chiều ngang. Tiêu biểu cho cách phân loại này bao gồm các nghiên cứu như: bài viết <Horizontal accountability and corruption control= cāa tác giả Larry Diamond [158]; bài tham luận <Accountability: the core concept and its subtypes=) cāa tác giả Staffan I. Lindber [164]; nghiên cứu To Serve and to Preserve: Improving Public Administration in a Competitive World cāa hai tác giả S.
Sundaram [163]; bài viết <Public accountability: A framework for the analysis and assessment of accountability arrangements in the public domain= cāa giáo sư Mark Bovens [159]; Báo cáo <Public Sector: Governance and Accountability Series Local governance in developing countries= cāa tác giả Anwar Shah [118]& Các nghiên cứu cho rằng, GT theo chiều dác là trách nhiám trong bản thân nhà nước giữa cấp dưới và cấp trên; cāa các nhánh quyền lực với nhau và giữa tổ chức bß giám sát với tổ chức giám sát. Mÿc đích cāa GT này là làm cho quyền lực bß giám sát, không ai có thể giấu diếm các thông tin quản lý khi thi hành công vÿ. GT theo chiều ngang chính là GT ra bên ngoài cho xã hái. Hoạt đáng GT này giúp đảm bảo xã hái được cập nhật thông tin và có quyền tiếp cận thông tin như sự ghi nhận cāa Hiến pháp và các đạo luật.
GT ra bên ngoài còn là cơ sá để xã hái đánh giá chính quyền và từ đó quyết đßnh sự tồn tại cāa nó trong lần bầu cử tiếp theo. - Phân loại GT theo tính chất có: GT chính trß - là nghĩa vÿ phải cung cấp thông tin cho đảng phải, cho cử tri& điều này thể hián những ràng buác về mặt quyền lực giữa các thực thể; GT đạo đức là nghĩa vÿ GT vì các ràng buác về đạo đức, về các giá trß luân lý về trách nhiám; GT pháp luật là nghĩa vÿ phải GT tuân theo những ghi nhận cāa pháp luật. Đây là loại GT có chế tài được ghi nhận rõ ràng trong luật pháp quốc gia. Nghiên cứu về nái dung có mát số công trình tiêu biểu sau: nghiên cứu <To Serve and to Preserve: Improving Public Administration 14 in a Competitive World=, cāa hai tác giả S.
Tình hình nghiên cứu vai trò và hệ quả GT của ĐTTT trong hoạt động TTNN Trong tình hình nghiên cứu cāa nước ngoài, vấn đề vai trò và há quả GT cũng đã được đề cập và làm rõ. Tiêu biểu có thể kể tới mát số tác giả và công trình sau: nghiên cứu <To Serve and to Preserve: Improving Public Administration in a Competitive World=, cāa hai tác giả S. Sundaram [163]; bài viết <Public accountability: A framework for the analysis and assessment of accountability arrangements in the public domain=, cāa giáo sư Mark Bovens [159]& Các nghiên cứu đã chã ra rằng, GT đóng vai trò rất quan tráng trong hoạt đáng công vÿ nói chung và hoạt đáng hành chính nhà nước nói riêng. Cÿ thể, các vai trò thể hián bản chất cāa GT được chã ra và phân tích sâu bao gồm: - GT là cơ chế kiểm soát quyền lực.
Đây là nái dung đầu tiên và mang tính bản lề khi nghiên cứu vai trò cāa GT. Nghiên cứu tiêu biểu cho nái dung này là: bài viết <Electoral Accountability and Corruption: Evidence from the audits of local governments= cāa tác giả Claudio Ferraz [132]; Tiểu luận <Leadership accountability in a globalizing world= cāa tác giả Williams. C [167]; tiểu luận <The Concept of Accountability in World Politics and the Use of Force= cāa tác giả Keohane Robert O [154]& Các nghiên cứu phân tích chu trình quyền lực cāa nhà nước đương đại, trong đó GT là sợi dây néo cāa quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước được kiểm soát bái GT thông qua cơ chế nghĩa vÿ phải cung cấp thông tin cāa cá nhân và tổ chức công quyền, ngược lại, ngưßi dân và xã hái có được mát cơ chế để thực hián quyền tham gia vào hoạt đáng quản lý nhà nước, tham gia giám sát nhà nước và thực hián quyền tự do ngôn luận, quyền tự do chính trß cāa mình.
15 - GT đóng vai trò là kênh thông tin để nâng cao chất lượng hoạch đßnh và hiáu quả thực hián chính sách công cāa nhà nước.