Tổng quan luận án
Luận án "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động" (tên đầy đủ theo đề tài: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Thanh tra Nhà nước Việt Nam) do nghiên cứu sinh Phạm Tuấn Khải thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền (Mã số: 5.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. PTS. Nguyễn Niên (Vụ trưởng Vụ Pháp chế Văn phòng Chính phủ) và PTS. Lê Bình Vọng. Công trình được bảo vệ dưới học vị Phó Tiến sĩ Khoa học Luật.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc đổi mới toàn diện tại Việt Nam đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước. Mục tiêu này đòi hỏi xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiện đại, quản lý có hiệu lực và hiệu quả mọi mặt đời sống xã hội. Trong chu trình quản lý điều hành, việc củng cố các phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật là yếu tố trọng yếu nhằm nâng cao năng lực bộ máy và hạn chế vi phạm pháp luật. Thanh tra Nhà nước giữ vị trí là một phương thức bảo đảm pháp chế, là chức năng thiết yếu gắn liền với quản lý nhà nước.
Mặc dù hệ thống tổ chức và pháp luật về thanh tra tại Việt Nam đã có quá trình phát triển liên tục từ tháng 11/1945 và được củng cố qua Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, nhưng trước sự vận hành của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều quy định pháp lý hiện hành đã bộc lộ bất cập. Đồng thời, sự xuất hiện của các thiết chế mới có chức năng kiểm tra, giám sát, kiểm sát và tài phán (như Tòa án kinh tế, Trọng tài kinh tế quốc tế, Trọng tài phi Chính phủ, Tòa án hành chính) đã tạo ra những cách nhìn nhận khác nhau về vị trí, vai trò của thanh tra Nhà nước. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có công trình đánh giá toàn diện, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết các tranh luận học thuật và cung cấp cơ sở khoa học cho việc sửa đổi pháp luật về thanh tra.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tổ chức và hoạt động của thanh tra Nhà nước dưới giác độ pháp lý; làm sáng tỏ vị trí, vai trò, mối liên hệ biện chứng giữa thanh tra với quản lý, lịch sử và thực trạng tổ chức, hoạt động của thanh tra trong quản lý nhà nước; từ đó rút ra các kiến nghị đổi mới tổ chức, hoạt động và nâng cao địa vị pháp lý của thanh tra Nhà nước trong điều kiện cải cách hành chính.
Để đạt mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu khái niệm, bản chất, đặc điểm của thanh tra Nhà nước; phân biệt thanh tra Nhà nước với hoạt động giám sát của Quốc hội, kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân, giám sát của Tòa án nhân dân và giám sát của nhân dân lao động thông qua các tổ chức xã hội.
- Phân tích về phương diện lý luận và thực tiễn vấn đề vị trí, vai trò của thanh tra trong quản lý nhà nước, mối quan hệ khăng khít với tư cách là một chức năng thiết yếu của thanh tra đối với quản lý nhà nước.
- Nghiên cứu các hình thức, phương pháp và phạm vi tác động của thanh tra Nhà nước; lịch sử hình thành và phát triển của thanh tra Nhà nước qua từng giai đoạn.
- Phân tích tổ chức và hoạt động của thanh tra Nhà nước theo pháp luật hiện hành, những bất cập của pháp luật hiện hành về thanh tra và những kiến nghị nhằm đổi mới tổ chức, hoạt động của thanh tra Nhà nước trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của thanh tra Nhà nước Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý, tập trung vào bản chất, chức năng, nguyên tắc, hình thức, phương pháp, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức bộ máy thanh tra.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu quá trình phát triển của thanh tra Nhà nước Việt Nam từ tháng 11/1945 qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến thời điểm nghiên cứu; kết hợp khảo cứu kinh nghiệm lịch sử thời kỳ phong kiến Việt Nam và pháp luật so sánh tại một số quốc gia (Liên Xô, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Thụy Điển, Bỉ, Bulgaria, Cộng hòa Dân chủ Đức).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề tổ chức và hoạt động thanh tra:
- Nghiên cứu quốc tế: Các công trình nghiên cứu về kiểm tra, thanh tra và quản lý nhà nước của các học giả như Evschorina, Turoxep (Liên Xô cũ), Schwacke, Christoph Reichard, Stainov, Bretzinger, Jaworsky.
- Nghiên cứu trong nước:
- Công trình khoa học cấp Bộ về "Đổi mới tổ chức và hoạt động Thanh tra trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường" của tập thể tác giả.
- Các chuyên khảo của PTS. Lê Bình Vọng: "Hỏi và đáp về Pháp lệnh thanh tra", "Tìm hiểu Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân", "Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt Nam".
- Chuyên đề "Thanh tra Nhà nước - phương thức riêng đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý Nhà nước" của PTS. Nguyễn Cửu Việt (trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam).
- Các bài báo khoa học đăng tải trên Tạp chí Thanh tra, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật và các báo chí trung ương, địa phương.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tìm hiểu bước đầu hoặc nghiên cứu từng khía cạnh riêng lẻ. Trong bối cảnh quản lý nhà nước mới, thực tiễn đang tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất về các vấn đề nền tảng:
- Mối quan hệ giữa thanh tra Nhà nước theo cấp hành chính và thanh tra Nhà nước chuyên ngành.
- Mô hình thiết chế: Đặt thanh tra Nhà nước trực thuộc Quốc hội (độc lập, không thuộc nhánh hành pháp) hay đặt trong cơ quan hành pháp.
- Phân định chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung) của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp với chức năng thanh tra của hệ thống thanh tra Nhà nước.
- Phân định thẩm quyền, chức năng giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra của Đảng, giám sát của cơ quan dân cử, điều tra tố tụng và tài phán của Tòa án hành chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án vận dụng lý luận Mác - Lênin về nhà nước, pháp luật và quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là các luận điểm của V.I. Lênin về tổ chức Ban kiểm tra Nhà nước và Bộ Dân ủy thanh tra công nông. Khung lý thuyết tập trung vào các khái niệm then chốt:
- Khái niệm thanh tra: Luận án phân tích gốc từ nguyên Latinh (Inspectare - nhìn vào bên trong), đối chiếu định nghĩa từ điển và khoa học pháp lý để xác lập khái niệm: Thanh tra là một dạng thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực Nhà nước nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
- Phân biệt thanh tra với các khái niệm liên quan:
- Kiểm tra: Kiểm tra theo nghĩa rộng (hoạt động của tổ chức xã hội, Đảng, công dân, mang tính xã hội và dư luận, không trực tiếp áp dụng cưỡng chế nhà nước) và kiểm tra theo nghĩa hẹp (hoạt động xem xét xác minh cụ thể của chủ thể quản lý, gần với thanh tra; quyền thanh tra bao hàm quyền kiểm tra).
- Kiểm soát, kiểm kê: Kiểm soát là xem xét ngăn chặn điều trái quy định; kiểm kê là kiểm lại từng đơn vị để xác định số lượng, chất lượng tài sản.
- Thẩm tra: Hoạt động xem xét, thẩm định, thu thập, đối chiếu chứng cứ làm rõ sự thật khách quan; là khâu bắt buộc trong quy trình thanh tra trước khi kết luận, xử lý.
- Điều tra: Hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Viện Kiểm sát) gắn với tố tụng tư pháp, áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt (tạm giữ, tạm giam), khác với thanh tra vốn chỉ áp dụng biện pháp hành chính (niêm phong tài liệu, kê biên tài sản, tạm giữ giấy phép).
- Kiểm sát: Chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật, tập trung vào tính hợp pháp của văn bản và hành vi; trong khi thanh tra thuộc nhánh hành pháp, xem xét cả tính hợp pháp và tính hợp lý (khả thi) của quyết định quản lý.
- Giám sát: Hoạt động của chủ thể bên ngoài không có quan hệ trực thuộc thứ bậc dọc (Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Tòa án, tổ chức xã hội, công dân).
- Tòa án hành chính: Cơ quan xét xử độc lập giải quyết khiếu kiện hành chính theo trình tự tố tụng, chỉ phán quyết về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính; khác với thanh tra thực hiện theo phương thức điều hành mệnh lệnh - phục tùng trong nội bộ hành pháp.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo các quan điểm hệ thống, lịch sử và thực tiễn trong mối liên hệ với các hiện tượng pháp lý.
- Phương pháp thu thập và phân tích:
- Phương pháp trừu tượng khoa học và đi từ cái chung đến cái riêng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật.
- Phương pháp thống kê so sánh pháp luật (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và pháp luật các nước).
- Phương pháp xã hội học pháp luật cụ thể.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có cơ cấu gồm Lời nói đầu, ba chương (8 tiết), Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương I: Thanh tra – Chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
Chương I tập trung luận giải các vấn đề lý luận cơ bản về thanh tra trong mối quan hệ với quản lý nhà nước, bao gồm ba tiết lớn:
1. Khái niệm, đặc điểm và phạm vi hoạt động của thanh tra
- Bản chất giai cấp: Luận án khẳng định thanh tra là công cụ của quyền lực nhà nước, phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước. Trong chế độ tư bản, thanh tra phục vụ bảo vệ quyền sở hữu tư nhân; dưới chủ nghĩa xã hội, quyền thanh tra thuộc về nhân dân lao động nhằm mở rộng dân chủ và nâng cao hiệu quả quản lý.
- Ba đặc điểm cơ bản của thanh tra:
- Thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước: Quản lý và thanh tra là một chỉnh thể thống nhất; quản lý giữ vai trò chủ đạo, thanh tra là phương tiện đo lường, phản ánh hiệu quả tác động của các quyết định quản lý, kiểm tra cả tính hợp pháp và hợp lý.
- Thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra: Thể hiện qua quyền ra quyết định bắt buộc đối tượng sửa chữa thiếu sót, yêu cầu truy cứu trách nhiệm và trực tiếp áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính. Luận án bác bỏ quan điểm đồng nhất thanh tra với biện pháp cưỡng chế, chỉ rõ cưỡng chế chỉ là một yếu tố của quyền lực, thanh tra xã hội chủ nghĩa coi trọng thuyết phục, giáo dục và mang tính nhân dân.
- Tính độc lập trong quá trình thanh tra: Thể hiện ở nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật, tự tổ chức thanh tra theo thẩm quyền, tính khách quan và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Luận án chỉ ra điểm bất cập của pháp luật hiện hành khi quy định cơ quan thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cùng cấp dẫn đến sự phụ thuộc hành chính ("song trùng trực thuộc", thậm chí thanh tra sở chịu ba chiều chỉ đạo).
- Phạm vi hoạt động: Bao quát toàn bộ các lĩnh vực quản lý nhà nước (chấp hành và điều hành), bao gồm kiểm tra nội bộ và thanh tra chức năng/chuyên ngành; đặc biệt bao hàm thẩm quyền tiếp nhận, xác minh và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
| Tiêu chí |
Hoạt động Thanh tra |
Hoạt động Kiểm sát (VKSND) |
Hoạt động Tòa án Hành chính |
| Vị trí thiết chế |
Thuộc cơ quan hành pháp (quản lý điều hành) |
Cơ quan kiểm sát độc lập |
Cơ quan xét xử thuộc hệ thống tư pháp |
| Đối tượng tác động |
Cơ quan, đơn vị, cá nhân trực thuộc và theo ngành |
Cơ quan, tổ chức, công chức từ cấp Bộ trở xuống |
Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện |
| Nội dung xem xét |
Cả tính hợp pháp và tính hợp lý (khả thi) |
Tập trung vào tính hợp pháp của văn bản, hành vi |
Chỉ phán xét tính hợp pháp theo trình tự tố tụng |
| Phương thức xử lý |
Ra quyết định hành chính, mệnh lệnh - phục tùng |
Kháng nghị, yêu cầu đình chỉ, truy tố |
Tuyên hủy văn bản sai trái, buộc bồi thường |
2. Các nguyên tắc, hình thức và phương pháp thanh tra
- Nguyên tắc thanh tra: (1) Chỉ tuân theo pháp luật; (2) Khách quan, dân chủ và công khai; (3) Chính xác, kịp thời.
- Hình thức thanh tra:
- Thanh tra mặt chấp hành của quản lý nhà nước.
- Thanh tra thường xuyên, toàn diện, từ trên xuống, từ dưới lên.
- Thanh tra bên trong (nội bộ) và thanh tra chức năng (chuyên ngành).
- Phương pháp thanh tra:
- Phương pháp giáo dục, thuyết phục kết hợp tác động trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính.
- Thanh tra theo đoàn, thanh tra bộ phận theo vụ việc và thanh tra đột xuất.
3. Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
- Thanh tra là công cụ nâng cao hiệu quả chu trình quản lý (từ dự báo, ra quyết định đến tổ chức thực hiện).
- Vai trò của thanh tra trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần: thiết lập trật tự kỷ cương kinh tế, bảo vệ tài sản công, chống quan liêu, tham nhũng và tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế.
Chương II: Tổ chức và hoạt động của thanh tra Nhà nước – Lịch sử và thực trạng
Chương II phân tích tiến trình lịch sử và đánh giá thực trạng hệ thống thanh tra qua ba nội dung chính:
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thanh tra Nhà nước Việt Nam
- Thời kỳ phong kiến: Thiết chế Ngự Sử đài, các chức quan Tả/Hữu Gián nghị đại phu thời Lý (1029), Ngự Sử thời Trần, chức Gián nghị đại phu thời Lê và việc đặt lầu chuông, chuông mõ (thời Lý, Trịnh Doanh 1747) để nhân dân khiếu nại, can gián vua chúa.
- Thời kỳ 1945–1954: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt với thẩm quyền giám sát nhân viên, cơ quan chính phủ và thiết lập Tòa án đặc biệt để xét xử cán bộ vi phạm; Hiến pháp 1946 quy định quyền kiểm soát của Ban Thường vụ Nghị viện đối với Chính phủ.
- Thời kỳ 1954–1975: Tổ chức thanh tra phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Hiến pháp 1959 mở rộng quyền kiểm tra việc thi hành nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính các cấp.
- Thời kỳ 1976 đến nay: Hiến pháp 1980 (Điều 107, Điều 110, Điều 124) và Hiến pháp 1992 (Điều 112) hiến định chức năng thanh tra của Chính phủ và UBND các cấp; ban hành Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 tạo khung khổ pháp lý đồng bộ cho hệ thống thanh tra nhà nước.
2. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra Nhà nước theo pháp luật hiện hành
- Hệ thống thanh tra nhà nước theo Pháp lệnh năm 1990 gồm: Thanh tra Nhà nước (Trung ương), Thanh tra Bộ/cơ quan ngang Bộ, Thanh tra tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra Sở và Thanh tra huyện/quận.
- Đánh giá các quy định pháp luật về thẩm quyền: quy định quyền hạn thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo; chỉ ra hạn chế về thẩm quyền xử lý vi phạm trực tiếp của thanh tra viên.
3. Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra Nhà nước
- Kết quả đạt được: Bộ máy thanh tra được kiện toàn từ trung ương đến địa phương; phát hiện nhiều vi phạm kinh tế, thu hồi tài sản cho nhà nước; giải quyết số lượng lớn đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; góp phần chấn chỉnh quản lý nhà nước.
- Những tồn tại, hạn chế về mặt tổ chức: Cơ cấu tổ chức còn phân tán, mô hình trực thuộc khiến cơ quan thanh tra thiếu tính độc lập đối với thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp; sự phân định giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành chưa rõ ràng.
- Những tồn tại, hạn chế về mặt hoạt động: Hoạt động thanh tra còn trùng lặp, chồng chéo với công tác kiểm tra của Đảng và kiểm sát chung của Viện Kiểm sát; hiệu lực thực thi các kết luận, kiến nghị thanh tra chưa cao do thiếu chế tài cưỡng chế trực tiếp.
Chương III: Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra Nhà nước
Dựa trên cấu trúc tổng thể và các luận cứ được nêu, luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp trọng tâm:
- Xác lập cơ sở khoa học để đổi mới mô hình tổ chức hệ thống thanh tra theo hướng tăng cường tính độc lập, giảm thiểu sự phụ thuộc tầng nấc hành chính.
- Hoàn thiện thẩm quyền của cơ quan thanh tra và chức danh thanh tra viên, trao quyền xử lý hành chính trực tiếp đối với các hành vi vi phạm rõ ràng.
- Phân định ranh giới hoạt động giữa thanh tra nhà nước với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện Kiểm sát nhân dân và hoạt động xét xử của Tòa án hành chính.
- Đổi mới quy trình thanh tra, cơ chế tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; xây dựng đội ngũ thanh tra viên chính quy, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 4 điểm mới chủ yếu về mặt học thuật và thực tiễn:
- Làm sáng tỏ bản chất lý luận của thanh tra: Phân tích toàn diện khái niệm thanh tra nhà nước qua các văn bản pháp luật, làm rõ vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa thanh tra với quản lý nhà nước; xác định bản chất, đặc điểm và mối tương quan giữa thanh tra với giám sát, kiểm sát, kiểm soát và các hình thức kiểm tra.
- Hệ thống hóa lịch sử thanh tra Việt Nam: Phân tích có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước từ năm 1945 đến nay, kết hợp đối chiếu các yếu tố lịch sử thời kỳ phong kiến.
- Luận giải cơ sở thẩm quyền của thanh tra: Đưa ra cơ sở khoa học cho việc xác định quyền hạn, nhiệm vụ của thanh tra nhà nước trong hệ thống các quan điểm pháp lý hiện đại; giải thích tính hợp pháp và hợp lý trong hoạt động thanh tra.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế: Chỉ ra các khiếm khuyết pháp lý trong tổ chức bộ máy và thẩm quyền thanh tra hiện hành; đề xuất giải pháp đổi mới cơ cấu tổ chức, tăng cường thẩm quyền và tính độc lập của thanh tra nhà nước, kết hợp tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (như mô hình Tổng thanh tra của Pháp, Cục Kiểm tra tài chính của Đức, Viện thanh tra kiểm toán của Đài Loan, Hàn Quốc).
Kiến nghị cụ thể
- Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 và Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnh.
- Tinh giản bộ máy, hoàn thiện quy chế pháp lý đảm bảo tính độc lập thực chất cho thanh tra viên trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền kết hợp Luật Hành chính, chủ yếu giải quyết các vấn đề thể chế, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền tổng quát; chưa đi sâu vào quy trình nghiệp vụ kỹ thuật chuyên ngành hẹp của từng lĩnh vực quản lý cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa Thanh tra Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan điều tra trong điều kiện kinh tế thị trường mở rộng.
- Hoàn thiện thể chế tài phán hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra với Tòa án hành chính khi Luật Tổ chức Tòa án và các văn bản tố tụng hành chính tiếp tục được sửa đổi.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Công trình cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc sửa đổi Pháp lệnh Thanh tra 1990, xây dựng Luật Thanh tra và Luật Khiếu nại, Tố cáo; hỗ trợ tiến trình cải cách bộ máy hành chính nhà nước.
- Đối với cơ quan thanh tra các cấp: Là tài liệu tham khảo trong việc chuẩn hóa nguyên tắc, phương pháp thanh tra, phân định thẩm quyền thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Phục vụ nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Luật học, Khoa học Hành chính và Quản lý công trong các chuyên đề về Luật Hành chính, Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, và Khoa học Thanh tra.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa như thế nào về "Thanh tra Nhà nước"?
Luận án định nghĩa: Thanh tra là một dạng thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực Nhà nước nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
2. Sự khác biệt căn bản giữa thanh tra và kiểm tra theo luận án là gì?
Kiểm tra tồn tại trước khi có nhà nước, mang tính xã hội rộng rãi (kiểm tra của Đảng, đoàn thể, quần chúng), không mang tính trực thuộc thứ bậc và chủ yếu tác động bằng dư luận, phê bình; khi kiểm tra mang tính quyền lực nhà nước thì trở thành một bộ phận của thanh tra (quyền thanh tra bao hàm kiểm tra). Ngược lại, thanh tra chỉ xuất hiện cùng với nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo thứ bậc hành chính (tính trực thuộc), nhân danh quyền lực nhà nước và có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo pháp luật.
3. Hoạt động thanh tra khác gì so với hoạt động của Tòa án hành chính?
Thanh tra là hoạt động thuộc nhánh hành pháp, thực hiện kiểm tra từ cấp trên đối với cấp dưới theo phương pháp mệnh lệnh - phục tùng, xem xét cả tính hợp pháp và tính hợp lý (khả thi) của quyết định quản lý. Tòa án hành chính là cơ quan xét xử độc lập, chỉ xem xét tính hợp pháp của quyết định hoặc hành vi hành chính khi có đơn khiếu kiện theo trình tự tố tụng tư pháp, không làm thay chức năng điều hành của cơ quan hành chính cấp trên.
4. Ba đặc điểm cơ bản của thanh tra được luận án phân tích là gì?
Ba đặc điểm gồm: (1) Thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước (quản lý và thanh tra là một chỉnh thể); (2) Thực hiện quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra (nhân danh quyền lực công, kết hợp tính nhân dân); (3) Độc lập trong quá trình thanh tra (chỉ tuân theo pháp luật, khách quan, tự chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra).
5. Văn bản pháp lý đầu tiên thành lập tổ chức thanh tra của chính quyền cách mạng Việt Nam là gì?
Đó là Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, thành lập Ban Thanh tra đặc biệt có nhiệm vụ giám sát nhân viên, cơ quan chính phủ và ủy viên thanh tra có quyền đứng ra buộc tội tại Tòa án đặc biệt.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Tuấn Khải là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức, hoạt động thanh tra Nhà nước tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, phân định rõ ràng thanh tra với kiểm tra, kiểm sát, giám sát và tài phán hành chính, đồng thời tổng kết sâu sắc lịch sử thanh tra Việt Nam từ năm 1945. Các luận điểm và kiến nghị của luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc đổi mới tổ chức bộ máy thanh tra và hoàn thiện hệ thống pháp luật thanh tra trong tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia.