Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chính sách tuyển dụng công chức ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng chính sách tuyển dụng công chức cấp xã ở Việt Nam Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện chính sách tuyển dụng công chức cấp xã ở Việt Nam 11 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm về tuyển dụng công chức Tuyển dụng là một trong những chức năng cơ bản của quản lý nguồn nhân lực. Thuật ngữ “tuyển dụng” rất quen thuộc trong khoa học quản lý nguồn nhân lực cũng nhƣ trong thực tiễn quản lý nhƣng nội hàm của nó vẫn chƣa đạt đƣợc sự thống nhất. Rất khó tìm một khái niệm, một định nghĩa về từ “tuyển dụng” trong khoa học quản lý nguồn nhân lực. Nói cách khác, các tài liệu, các giáo trình của Việt Nam cũng nhƣ nƣớc ngoài, khi đề cập đến khái niệm tuyển dụng thì đều dùng hai cụm từ đó là tuyển (recruitment) và chọn (selection) chứ không có khái niệm về tuyển dụng.
Hai cụm từ này thƣờng dùng cùng nhau để chỉ một chức năng cơ bản của quản lý nguồn nhân lực đó là một quá trình liên quan tới việc xác định, thu hút, lựa chọn ngƣời phù hợp với yêu cầu nguồn nhân lực của tổ chức Tuyển và chọn có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự khác biệt của chúng chính là khi quá trình tuyển kết thúc thì quá trình chọn bắt đầu, tuyển là việc tìm kiếm đƣợc đủ số lƣợng và chất lƣợng ứng viên tiềm năng để tổ chức có thể chọn những ngƣời thích hợp nhất đáp ứng nhu cầu công việc của mình, tuyển là quá trình thu hút những ngƣời xin việc có trình độ từ lực lƣợng lao động trong xã hội và lực lƣợng trong tổ chức hay cũng có thể nói là một tiến trình định vị và thu hút ứng viên để điền khuyết chức vụ trống cho tổ chức; trong khi đó, chọn liên quan tới việc dự đoán các ứng viên thích hợp nhất đóng góp cho tổ chức cả ở hiện tại và tƣơng lai chọn là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc để tìm đƣợc 12 Luan van những ngƣời phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những ngƣời đã đƣợc thu hút đƣợc từ quá trình tuyển mộ. Trong lĩnh vực hành chính nhà nƣớc thì tuyển dụng đƣợc hiểu theo một hƣớng khác là một hoạt động nhằm chọn đƣợc ngƣời đủ năng lực và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan hành chính Nhà nƣớc. Tùy theo tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan và tiêu chuẩn, điều kiện của từng chức danh cần tuyển dụng thì có hình thức tuyển dụng khác nhau. Tuyển dụng là khâu đầu tiên có ảnh hƣởng đến chất lƣợng đội ngũ công chức, do vậy phải tuân thủ nguyên tắc, quy trình khoa học.
Theo Luật cán bộ, công chức 2008 thì “Khái niệm tuyển dụng công chức là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển. Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác và theo chỉ tiêu biên chế được giao” [34]. Từ những đặc điểm trên đây, rõ ràng việc tuyển dụng công chức mang những điểm khác biệt nhất định so với tuyển dụng ngƣời lao động thông thƣờng. Chẳng hạn, yếu tố quốc tịch luôn đƣợc coi là yếu tố bắt buộc khi tuyển dụng công chức tuỳ một số rất ít quốc gia và chỉ dành cho một số vị trí nhất định (Singapore là nƣớc cho phép công chức không nhất thiết phải mang quốc tịch Singapore).
Do công chức làm việc cho cơ quan nhà nƣớc nên việc tuyển dụng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp lý. Để đảm bảo mọi công dân đều có quyền trực tiếp tham gia quản lý nhà nƣớc nếu họ có khả năng do vậy tuyển dụng công chức phải đảm bảo nguyên tắc công khai, công bằng, bình đẳng cho mọi công dân… Thêm nữa, dù sử dụng mô hình chức nghiệp hay mô hình việc làm nhà nƣớc đều hƣớng tới sự ổn định trong nhân sự, ổn định bộ máy nhà nƣớc nên việc tuyển dụng đòi hỏi phải đƣợc tiến hành một cách thận trọng, hiệu quả, thời gian tập sự thƣờng cao hơn khu vực tƣ nhân. Công việc quản lý nhà nƣớc luôn đem lại những thách thức cũng nhƣ mang ý nghĩa cộng đồng cao, tạo sức hút nhất định đối với ngƣời tham gia 13 Luan van tuyển dụng. Đây cũng là một lợi thế trong tuyển dụng công chức của nhà nƣớc.
Công chức chiếm một số lƣợng đáng kể trong nguồn nhân lực của nhà nƣớc nói chung, của xã hội nói riêng. Đối tƣợng này đảm nhận rất nhiều vị trí, nhiều công việc khác nhau, thuộc nhiều ngành nghề với những yêu cầu riêng. Về cơ bản, nếu xét theo tính chất công việc có thể chia công chức thành hai loại: công chức lãnh đạo, quản lý và công chức không phải là lãnh đạo, quản lý. Mỗi nhóm công chức này sẽ có những yêu cầu riêng về khung năng lực để đảm bảo các công việc tƣơng ứng.
Việc tuyển dụng các công chức này cũng đòi hỏi mang những nét đặc trƣng riêng. Từ việc tìm hiểu các khái niệm nêu trên có thể tổng kết khái niệm: Tuyển dụng công chức là việc lựa chọn và chấp nhận một ngƣời tự nguyện gia nhập vào công vụ sau khi đã xác nhận ngƣời đó có đủ tiêu chuẩn và điều kiện đối với vị trí còn trống trong bộ máy hành chính nhà nƣớc. Tuyển dụng công chức là một kênh quan trọng để bổ sung nguồn nhân lực cho bộ máy nhà nƣớc.2 Khái niệm công chức cấp xã Khái niệm công chức ở nƣớc ta có lịch sử phát triển lâu dài. Ngay từ những năm sau khi giành chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 76/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công chức của nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Ở Việt Nam hiện nay, công chức đƣợc phân định theo cấp hành chính. Ngoài công chức ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện còn có một bộ phận công chức ở cấp xã. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 đƣợc ban hành là sự khẳng định về mặt pháp lý đối với đội ngũ công chức cấp xã. Theo đó đã quy định cán bộ, công chức ở Việt Nam bao gồm: Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
14 Luan van Việc điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp xã là một bƣớc đột phá, thể hiện sự thay đổi nhận thức có tính căn bản của các cơ quan nhà nƣớc ở nƣớc ta trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nƣớc. Đây là lần đầu tiên công chức cấp xã có chế độ làm việc và hƣởng chính sách nhƣ cán bộ, công chức nhà nƣớc. Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng những ngƣời làm việc tại các cơ quan địa phƣơng không gọi là công chức nhà nƣớc mà gọi là công chức địa phƣơng, nhƣng địa vị pháp lý của họ tƣơng tự nhƣ công chức nhà nƣớc làm việc tại các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng. Quan niệm trên bắt nguồn từ việc không coi các cơ quan của địa phƣơng là cơ quan nhà nƣớc, mà đó chỉ là các cơ quan tự quản của cộng đồng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử khái niệm nay có nhiều thay đổi đến khi Luật cán bộ, công chức năm 2008 ra đời đã quy định “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [34. Về cơ cấu công chức cấp xã gồm các chức danh: Theo quy định tại Luật cán bộ công chức năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về chức danh số lƣợng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, chức danh công chức cấp xã gồm: Trƣởng Công an; Chỉ huy trƣởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tƣ pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội. 15 Luan van Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Công an nhân dân năm 2018 thì giao Chính phủ quy định cụ thể việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy. Nhƣ vậy, lộ trình xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy sẽ đƣợc quy định trong Nghị định của Chính phủ.
Khi đó đối với những xã, thị trấn đã bố trí công an chính quy thì công an xã không còn là công chức cấp xã [35].3 Khái niệm tuyển dụng công chức cấp xã Từ khái niệm về tuyển dụng và công chức cấp xã có thể rút ra khái niệm về tuyển dụng công chức cấp xã là một hoạt động nhằm chọn đƣợc ngƣời đủ năng lực và điều kiện đảm nhận các chức danh công chức cấp xã đƣợc quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2008. Cũng theo Luật cán bộ công chức 2008 thì việc tuyển dụng công chức cấp xã phải thông qua thi thuyển, đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể đƣợc tuyển dụng thông qua xét tuyển [34].4 Khái niệm chính sách và chính sách tuyển dụng công chức cấp xã “Chính sách” là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phƣơng tiện truyền thông và trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng. Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đƣờng lối hành động đƣợc thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách.
Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách có thể đƣợc xem nhƣ là một đƣờng lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể. David Easton (năm 1953) cho rằng “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị. Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của khu vực công đƣợc gọi là chính sách công.