Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. TIEU LUAN MOI download6 : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI 1. 1 Khái niệm quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài 1.1 Quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài. Một thực tế dễ nhận thấy trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay là: mặc dù đã có văn bản pháp luật quy định về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài nhưng chưa có văn bản nào định nghĩa về "quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài". Nghị định 141/2005/NĐ - CP ngày 11/11/2005 của Chính Phủ về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, nhưng cũng không hề giải thích thế nào là quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.
Đây là một hạn chế, tạo nên sự khó hiểu cho người đọc, người nghiên cứu văn bản. Với mục đích nghiên cứu là đi sâu tìm hiểu về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, điều đầu tiên mà luận văn muốn đề cập đến chính là khái niệm "quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài". Để có thể hiểu thế nào là "quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài" trước hết cần tìm hiểu "quản lý" và "quản lý lao động" là gì? "Quản lý" là gì? Đó là một câu hỏi mà bất cứ người học quản lý, người nghiên cứu về quản lý nào khi mới tiếp cận vấn đề đều không tránh khỏi sự băn khoăn và mong muốn lý giải. Quản lý là một thuật ngữ rộng bao gồm nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Thường thì mỗi một nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo lại đưa ra một định nghĩa về quản lý của riêng mình. Chính bởi lẽ đó cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên "quản lý" cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt.
"Quản lý" theo định nghĩa của mỗi TIEU LUAN MOI download7 : skknchat@gmail.com trường phái (trường phái quản lý học, triết học, kinh doanh - quản lý doanh nghiệp)…mang một màu sắc riêng, độc lập. Tuy vậy, dù được định nghĩa theo bất cứ trường phái nào thì về bản chất trên phương diện nghĩa của từ "quản lý" đều có nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động"[1, tr.800] và "là sự tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định" [2, tr. Và dù có được định nghĩa theo bất kỳ cách nào thì bản thân khái niệm "quản lý"đều phải đảm bảo sự tồn tại của 4 yếu tố cơ bản cấu thành sau: - Chủ thể quản lý: Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước.
Để thực hiện hoạt động quản lý cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung; quyền uy đem lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý, bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Chủ thể của quản lý là cá nhân hay tổ chức - những người đại diện có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý.
Ví dụ: Giám đốc một doanh nghiệp là một cá nhân - người có quyền và nghĩa vụ lãnh đạo, liên kết các hoạt động riêng lẻ của từng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho cá nhân giám đốc nói riêng và tập thể lãnh đạo doanh nghiệp nói chung. - Khách thể quản lý: Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự quản lý được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật…tuỳ theo từng loại quản lý. - Mục đích quản lý: TIEU LUAN MOI download8 : skknchat@gmail.com Mục đích của quản lý khá đa dạng: có thể là thời gian, tài chính, cơ sở vật chất…tuỳ vào từng hoàn cảnh, từng trường hợp cụ thể.
Quản lý trong doanh nghiệp thường bao gồm nhiều mục đích khác nhau như: thời gian làm việc của nhân viên, cơ sở vật chất của doanh nghiệp và khi quản lý tốt hai yếu tố đó cộng với việc tiêu thụ tốt sản phẩm làm ra doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận đảm bảo mục đích cao nhất khi thành lập doanh nghiệp. - Môi trường và điều kiện tổ chức (hay hoàn cảnh quản lý): Môi trường quản lý có thể là trong nước, ngoài nước, trên phương tiện vận tải, trong nhà máy, xí nghiệp,… Như vậy chủ thể, khách thể, mục đích và môi trường quản lý là bốn yếu tố cơ bản nhất cấu thành quản lý, là nền tảng để người nghiên cứu đưa ra cách hiểu, cách định nghĩa về quản lý cho dù cách định nghĩa đó được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ khoa học nào. Trong lĩnh vực lao động nói riêng hoạt động quản lý luôn tồn tại, bao gồm: hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chủ sử dụng lao động và người lao động, quản lý của chủ sử dụng lao động đối với tư liệu lao động và người lao động. Tất cả các hoạt động quản lý đó được gọi chung là quản lý lao động.
Vậy "quản lý lao động là gì?" Theo định nghĩa của Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì quản lý lao động là: “Hoạt động bao hàm cả việc thiết kế, công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và vận hành cơ chế đó nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội". Quản lý gồm hai mặt: - Các biện pháp quản lý chung (tạo ra môi trường pháp lý lao động). - Các biện pháp bảo đảm duy trì quyền quản lý của nhà nước (tạo nên hiệu quả của hoạt động quản lý) [2, tr. Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy về cơ bản hai khái niệm “quản lý” và “quản lý lao động” đều đã được định nghĩa, mặc dù các cách định nghĩa chưa hoàn toàn thống nhất nhưng đã đem lại cho người nghiên cứu những tri thức ban đầu, đơn giản nhất về bản chất của vấn đề.
Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm "quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài" vẫn chưa được chính thức nêu ra trong bất cứ tài liệu nghiên cứu TIEU LUAN MOI download9 : skknchat@gmail. Để có thể đưa ra định nghĩa "quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài" luận văn xin đi sâu phân tích, khai thác vấn đề ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau. Về bản chất, quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài có nguồn gốc từ quản lý, quản lý lao động. Trong đó, khái niệm quản lý có ngoại diên rộng nhất còn quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài lại là khái niệm có ngoại diên hẹp hơn cả.
Nếu quản lý là sự tổ chức, điều khiển hoạt động chung, quản lý lao động là quản lý tất cả lực lượng lao động trong xã hội, quản lý tư liệu lao động thì quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài là sự quản lý riêng một số lượng người lao động - những người đi làm việc, tạo ra thu nhập và tạm trú có thời hạn ở nước ngoài. Như vậy, từ quản lý, quản lý lao động đến quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài đối tượng quản lý đã được thu hẹp dần vào một phạm vi nhất định. Về mặt thuật ngữ thuần tuý, quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài được ghép lại bởi hai cụm từ có nghĩa độc lập: “quản lý” và “lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài”. Như đã trình bày ở trên, quản lý có nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động”; Lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài được hiểu là: “Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài" [29] theo các hình thức do pháp luật qui định.
Từ đó, ta có thể hiểu quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo thuật ngữ thuần tuý là sự tổ chức, điều khiển hoạt động đưa công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi họ đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài là một hiện tượng xã hội, bao gồm toàn bộ các hoạt động, các khâu từ phân công, điều động, hợp tác đến kiểm tra, giám sát nhằm mục đích duy trì quyền năng của cơ quan, tổ chức, cá nhân lên đối tượng quản lý (người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài). Hoạt động quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài tồn tại khách quan và được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cụ thể hoạt động đó hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường khi TIEU LUAN MOI download10: skknchat@gmail.com nước ta mở cửa giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được thừa nhận là một loại hàng hoá; người lao động có quyền sở hữu sức lao động của mình và được tự do trao đổi.