CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Công ty cổ phần và phân tích hiệu quả hoạt động trong công ty cổ phần. Các khái niệm liên quan. Khái niệm công ty cổ phần.
Công ty cổ phần được phôi thai từ đầu thế kỷ thứ 15 ở Châu Âu. Đến thế kỷ thứ 16, dưới sự tác động của chủ nghĩa trọng thương cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế đã hình thành các công ty hoạt động chủ yếu dựa trên vốn góp cổ phần. Kể từ khi công ty cổ phần đầu tiên được thành lập cách đây hơn 400 năm,hình thức này ngày càng phát triển và đã chứng tỏ được những ưu thế của nó so với hình thức doanh nghiệp khác. Vậy Công ty cổ phần là một doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi phần góp vốn của mình.
Khái niệm về hiệu quả. Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động SXKD. Nói cách khác, bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy, thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình SXKD, nên cần phải xem xét hiệu quả kinh doanh trên cả hai mặt đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vật tư, tiền vốn nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong hoạt động SXKD. Hiệu quả kinh tế không những là Luan van 5 thước đo trình độ tổ chức quản lý SXKD mà còn là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích mà xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh, đó chính là việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ ngày càng tốt hơn nhằm th thoả nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế dễ xác định, có thể đo lường các chỉ tiêu ở mức độ tổng hợp và cụ thể. Hiệu quả xã hội chỉ có thể đánh giá một cách tương đối thông qua những biểu hiện của đời sống xã hội trong phạm vi nền kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả xã hội chỉ được kết hợp đánh giá đan xen cùng hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi sử dụng hiệu quả các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của lao động xã hội, được so sánh giữa chất lượng kết quả lợi ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả hoạt động kinh doanh là tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu hoá chi phí trên cơ sở nguồn vốn sẵn có. Hiệu quả hoạt động chỉ có thể đạt được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất lượng công tác. Để đạt hiệu quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các nhà kinh doanh không những nắm chắc các tiềm năng tiềm ẩn về vốn, lao động, kỹ thuật… mà còn nắm vững tình hình cung cầu hoá trên thị trường, đối thủ cạnh tranh… hiểu được thế mạnh thế yếu của doanh nghiệp để khai thác hết mọi tiềm năng hiện có, tận dụng được những cơ hội vàng của thị trường, có nghệ thuật kinh doanh ngày càng phát triển.
Luan van 6 Về mặt định lượng: bản chất của hiệu quả là kết quả thu được so với chi phí bỏ ra. Về mặt định tính: bản chất của hiệu quả thể hiện ở trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý thông qua việc nổ lực thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội gắn liền với nhiệm vụ chính trị. Quan điểm khi phân tích hiệu quả hoạt động trong công ty cổ phần. Hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm nhiều hoạt động.
Hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính ở doanh nghiệp có mối quan hệ qua lại nên phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phải xem xét đầy đủ cả hai hoạt động này. Một doanh nghiệp có thể có hiệu quả kinh doanh cao nhưng đạt hiệu quả tài chính thấp vì các chính sách tài trợ không thích hợp. Hoạt động trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp có những hướng chiến lược phát triển riêng trong từng giai đoạn. Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng nhưng mục tiêu đó luôn gắn liền với mục tiêu thị phần.
Do vậy, cần phải xem xét doanh thu và lợi nhuận là hai yếu tố quan trọng trong đánh giá hiệu quả. Với những quan điểm trên, chỉ tiêu phân tích chung hiệu quả cơ bản được tính như sau: Đầu ra K= Đầu vào Trong đó: “Đầu ra” bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận… “Đầu vào” thường bao gồm các yếu tố như vốn chủ sở hữu, tài sản, các loại tài sản… Do số liệu để tính toán hiệu quả có thể là số liệu của một thời kỳ hoặc số liệu tại một thời điểm nên phải có sự phù hợp về thời kỳ giữa số liệu đầu vào và đầu ra. Nguyên tắc này loại bỏ sự biến động mang tính thời vụ do đặc thù kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trong trường hợp không có số liệu bình quân thì có thể sử dụng số liệu tại một thời điểm để phân tích.
Số bình quân là số trung bình của cả một thời kỳ, trong một số trường hợp khi phân tích cần phải sử dụng số bình quân thì số liệu Luan van 7 tính toán sẽ chính xác hơn. Nếu như số liệu trong một kỳ có sự biến động lớn hoặc khi tính toán các chỉ tiêu mà có liên quan đến lợi nhuận, doanh thu hay chi phí thì nên sử dụng số bình quân sẽ chính xác hơn vì số liệu của các chỉ tiêu này liên quan đến một thời kỳ. Nếu ta sử dụng số thời điểm để tính các chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận thì số liệu không chính xác, ví dụ như tính các tỷ suất: Hiệu suất sử dụng tài sản, TSCĐ, tỷ suất sinh lời tài sản, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu… Tuy nhiên một số chỉ tiêu ta chỉ cần sử dụng số thời điểm như tỷ suất nợ, các tỷ suất phân tích cấu trúc vốn… Ưu điểm của việc sử dụng số bình quân trong phân tích cho ta số liệu tính toán chính xác hơn, nhưng số liệu tính toán nhiều, khó thu thập. còn việc sử dụng số dư thời điểm thì có ưu điểm là số liệu thu thập dễ, đơn giản trong tính toán, tuy nhiên độ chính xác không cao.
Ý nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động trong công ty cổ phần. Phân tích hiệu quả hoạt động là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp. Để quản lý tốt hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị cần phải thường xuyên phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình để phát hiện kịp thời những mặt mạnh, mặt yếu trong hoạt động của đơn vị từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh thích hợp nhằm đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Phân tích hiệu quả giúp cho công ty nhận thấy được tiềm năng kinh doanh của mình để trên cơ sở đó có chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực hiện có để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh.
Trong quá trình phân tích, kết quả phân tích là cơ sở chính xác nhất giúp cho nhà quản trị trong công ty có thể xây dựng được các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn cũng như trong việc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả nhất. Ngoài ra phân tích hiệu quả trong công ty cổ phần mà cụ thể là phân tích hiệu quả tài chính giúp cho công ty có thể thấy trước được những rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh để có hướng giải quyết hợp lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể. Luan van 8 Như vậy, phân tích hiệu quả hoạt động trong công ty cổ phần trở nên cần thiết và có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết đối với các nhà quản trị và cổ đông trong công ty cổ phần. Đặc điểm của công ty cổ phàn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.
Công ty cổ phần là một trong những loại hình doanh nghiệp được ưa chuộng trên thế giới. So với các công ty hợp danh, công ty tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn thì hình thức công ty cổ phần có nhiều ưu điểm hơn. Chính điều này nó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.
Cổ đông của công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Đây là một ưu điểm làm cho công ty cổ phần rất hấp dẫn các nhà đầu tư. bởi vì việc đầu tư vào các công ty như vậy ít rủi ro hơn.