Phần mở đầu, phần nội dung (gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài; chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu; chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn) và kết luận, kiến nghị. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề rối nhiễu hành vi và rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ. Những nghiên cứu trên thế giới.
Vấn đề rối nhiễu hành vi ở trên thế giới đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19, trong đó có một số tên tuổi nổi tiếng là các nhà tâm thần học, tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng nhƣ: V. Eysench, Xukhareva và Inxevit. Trong lĩnh vực này có thể kể đến các thành tựu nổi bật của một số tác giả, đó là: Theo Leo Kanner, một nhà Tâm thần học ngƣời Mỹ thuộc viện John Hopkins (1943) đã nghiên cứu trên một nhóm trẻ đƣợc đƣa tới viện với những biểu hiện bất kỳ lạ, ông chỉ ra rằng những đứa trẻ này có những dạng hành vi khác thƣờng, ông gọi là dạng tự toả ban đầu ở trẻ nhỏ (các rối loạn về tiếp xúc cảm xúc có tính tự kỷ). Ông đã mô tả chi tiết các hành vi của nhóm trẻ này nhƣng đã trọn ra một số nét đặc biệt có thể coi là quan trọng hàng đầu trong việc chẩn đoán.
Những đặc điểm này bao gồm: thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với ngƣời khác, thể hiện cách lựa trọn các thói quen hàng ngày rất giống nhau với tính cách kì dị và tỉ mỉ, không hề nói năng hoặc cách nói khác thƣờng rõ rệt, rất ham thích xoay vần các đồ vật và thao tác khéo léo, có khả năng tốt về nhận thức không gian và trí nhớ vẹt, trái ngƣợc về tình trạng khó khăn trong các lĩnh vực khác, hình thức bề ngoài có vẻ nhanh nhẹn, hấp dẫn và thông minh. Sau này ông chỉ dẫn chỉ cần hai đặc điểm đầu tiên cũng đủ để dự đoán. Ông cũng nhấn mạnh tình trạng này có thể thấy đƣợc từ khi đứa trẻ ra đời hoặc trong 30 tháng đầu [8,tr22]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1944, một bác sĩ tâm thần ngƣời Áo là Hans Asperger (1906- 1980), ông đã sử dụng thuật ngữ Autism khi nghiên cứu trên một nhóm trẻ trai có hành vi khác thƣờng.
Ông mô tả nhƣ sau: Ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thƣờng, tuy nhiên trong cách diễn tả và phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh. Có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất “con, tôi”, lẫn lộn với ngôi thứ hai và thứ ba. Trẻ vẫn có tiếp xúc về mặt xã hội nhƣng có xu hƣớng thích cô đơn, đơn độc. Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rƣờm rà, phức tạp, không thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh xã hội.
Những nét khác thƣờng này đƣợc phát hiện khi trẻ đƣợc 3 tuổi trở lên hoặc bắt đầu đi học. Những trẻ mang hội chứng này có sở thích đặc biệt về toán học và có khả năng trí nhớ tốt một cách lạ thƣờng [4,tr21]. Nghiên cứu của Kira (2004) liên quan đến rối loạn hành vi : “Hầ u hế t trẻ tự kỷ có nét đặc trƣng nhƣ : trải qua nhiều thời gian với những hành vi ứng xử bối rối, xao đô ̣ng mà điề u này khiế n trẻ tƣ̣ kỷ khác với nhƣ̃ng trẻ bình thƣờng khác. Chúng có thể nhìn chằm chằm vào khoảng không hàng giờ, ném những đồ vật một cách vô căn cứ trong cơn tức giận.
Biể u lô ̣ viê ̣c không thić h con ngƣời (kể cả bố me ̣), thích những hà nh đô ̣ng bấ t thƣờng mô ̣t cách vô thƣ́c. Trẻ thể hiện nhƣ đang sống trong thế giới riêng của mình. Mô ̣t vài cá nhân trẻ tƣ̣ kỷ có năng khiế u đă ̣c biê ̣t trong mô ̣t liñ h vƣ̣c nào đó nhƣ: âm nha ̣c, toán học” [dẫn theo 27, tr12]. Những nghiên cứu ở trong nƣớc.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về rối nhiễu hành vi, đặc biệt là rối nhiễu hành vi ở trẻ em. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu của Ngành Tâm thần học Việt Nam trong phạm vi cả nƣớc (1992), tiến hành trên các trẻ em từ 10- 17 tuổi cho thấy có 3,7% có rối nhiễu hành vi trong số 124. Trong đó tỷ lệ của trẻ em nam cao hơn tỷ lệ của trẻ em nữ [dẫn theo tài liệu số 23,tr15]. Nghiên cứu của trung tâm NT trên những trẻ có vấn đề đƣợc đƣa đến khám và điều trị tại bệnh viện Đống Đa (1991- 1996) với báo cáo chuyên đề “Mã hoá- phân loại rối nhiễu tâm lý trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam” cũng cho thấy có 287/717 (xấp xỉ 39%) trẻ có rối nhiễu hành vi (bao gồm các biểu hiện hung hãn, học sút, lang thang, trốn học).
Một công trình nghiên cứu của cố giáo sƣ Đặng Phƣơng Kiệt (1997- 1999) trên 1266 học sinh phổ thông trung học ở Hà Nội cũng cho thấy có 117 em có rối nhiễu hành vi, chiếm 9,24% trong đó rối nhiễu hàng đầu là nói rối, trốn học, bỏ tiết. Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú- Viện Nhi Trung Ƣơng trên hai phƣờng ở Hà Nội về nguyên nhân gây RNHV và bị ngƣợc đãi ở trẻ em, nghiên cứu này đƣa ra kết luận: tỉ lệ các rối loạn tâm thần và cảm xúc ở trẻ em và thanh thiếu niên chiếm 19,64% trong đó RNHV chiếm 6% và nam cao hơn nữ 1/1,63 lần. Có thể thấy, rối nhiễu hành vi là vấn đề lớn, thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu đơn lẻ hay một số yếu tố về RNHV.
Các công trình nghiên cứu này tập trung nhiều ở những khách thể lớn, trẻ vị thành niên, những công trình nghiên cứu về RNHV ở trẻ tự kỷ còn rất hạn hẹp, có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Nghiên cứu “Tìm hiểu về một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ” ở Khoa Tâm Thần Bệnh viện Nhi Trung ƣơng do Bs Quách Thuý Minh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và cộng sự thực hiện có đề cập đến những hành vi khác thƣờng ở trẻ tự kỷ và cách tiến hành điều trị tâm vận động khi có sự kết hợp của gia đình. Thời gian gần đây cũng có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về trẻ tự kỷ (Nghiên cứu của tác giả Ngô Xuân Điệp về “Nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” (luận án tiến sĩ- Viện Tâm lý-2009), nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng mức độ nhận thức cũng nhƣ một số đặc điểm trong nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án không nghiên cứu về hành vi của trẻ tự kỷ nhƣng luận án cũng đã đề cập đến một số hành vi của trẻ tự kỷ đƣợc ghi nhận trong quá trình nghiên cứu: trẻ tự kỷ có những biểu hiện la hét nơi công cộng, giật đồ vật từ tay của ngƣời khác, trẻ có biểu hiện thờ ơ hay quá gắn bó vào một đồ vật nào đó [6] Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hải Oanh về “Những liệu pháp tâm lý đƣợc sử dụng trong trị liệu cho trẻ tự kỷ” (Luận văn tốt nghiệp, khoa Tâm lý -2006), một trong số những vấn đề của nghiên cứu chỉ ra rằng: Trẻ tự kỷ có rất nhiều vấn đề về hành vi nhƣ gào khóc ăn vạ hàng giờ, tự cào cấu bản thân mình, hung tính với ngƣời khác. liệu pháp hành vi giúp trẻ có đƣợc hành vi thích ứng để hoà nhập với xã hội từ đó đi tới loại bỏ hành vi kém thích nghi [19] Nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Thị Mẫn về “Giao tiếp giữa cha mẹ với con cái là trẻ tự kỷ trên địa bàn Hà Nội” (Luận văn thạc sĩ, khoa Tâm Lý , 2010).
Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trên bình diện giao tiếp giữa những bậc cha mẹ có con tự kỷ với chính con cái mình, bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập đến những biểu hiện của trẻ tự kỷ đƣợc thể hiện trong quá trình giao tiếp với bố mẹ nhƣ những hành vi xa lánh bố mẹ, sự hạn chế về biểu đạt ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp [17] Mặc dù chƣa có tác giả nào đề cập một cách cụ thể cũng nhƣ nghiên cứu chi tiết về hành vi của trẻ tự kỷ, nhƣng những công trình, đề tài nghiên 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu ấy đã giúp chúng tôi đƣợc bổ sung nhiều tƣ liệu quý báu và làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi. Do vậy, nhằm làm rõ hơn nữa về những rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ, ảnh hƣởng của những hành vi đó tới cuộc sống của trẻ nhƣ thế nào? cách khắc phục ra sao? Thiết nghĩ đây là một trong những đặc điểm của trẻ tự kỷ cần đƣợc quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay khoa học vẫn chƣa xác định đƣợc chính xác căn nguyên của bệnh tự kỷ. Mỗi cách tiếp cận khác nhau lại đƣa ra những giả thuyết khác nhau về nguyên nhân của những rối loạn này.
chẳng hạn nhƣ: nguyên nhân do cấu tạo não, căn nguyên tâm lý, nhiễm độc thuỷ ngân, tổn thƣơng trong khi sinh.Do đó việc đi tìm căn nguyên cuả có vẫn đang đƣợc tiếp tục nghiên cứu. Nhƣ vậy, những trẻ mắc bệnh tự kỷ ngày càng đƣợc xã hội quan tâm và có cơ hội phát triển nhƣ những trẻ em khác. Nhƣng để điều này trở thành hiện thực, chúng ta cần có sự nỗ lực của nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau, trƣớc hết chúng ta phải hiểu rõ và hiểu đúng về bệnh tự kỷ. Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu.
Khái niệm hành vi. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hành vi: Các nhà sinh vật học cho rằng: hành vi là cách sống và hoạt động của con ngƣời trong một môi trƣờng nhất định, tạo nên sự thích nghi của cơ thể đối với môi trƣờng. Hành vi của con ngƣời theo quan điểm này bị bó hẹp trong hoạt động nhằm thích nghi với môi trƣờng để đảm bảo sự tồn tại của con ngƣời trƣớc môi trƣờng đó. Chủ nghĩa hành vi quan niệm: hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể, tức hành vi là tất cả các phản ứng hay cách thức để con ngƣời thích ứng với môi trƣờng.