Chương 1 chủ yếu đề cập đến kết quả nghiên cứu về XĐGTTL tại Việt Nam được trình bày trên các phương diện: số lượng, loại hình, tác giả, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu tham khảo mà các công trình đã sử dụng, đặc biệt là kết quả về nội dung. Chương 2 của đề tài là “Thực tế vận dụng lý luận XĐGTTL tại các lƣu trữ cấp tỉnh”. Chương này trình bày thực trạng vận dụng lý luận XĐGTTL trên các mặt: ban hành văn bản quy định, các công cụ hướng dẫn XĐGTTL và trong thực tế tổ chức XĐGTTL ở các cơ quan, tổ chức, lưu trữ cấp tỉnh. Qua đó, đánh giá những thành tựu và hạn chế, thiếu sót trong quá trình vận dụng, đây là cơ sở để tác giả trình bày những vấn đề lý luận cần nghiên cứu về XĐGTTL trong thời gian tới được đề cập ở Chương 3.
Chương 3 của đề tài có tên gọi “Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao hiệu quả vận dụng lý luận XĐGTTL ở Lƣu trữ cấp tỉnh”. Đây cũng là mục tiêu chính mà đề tài hướng tới. Chương này tập trung trình bày những khoảng trống về lý luận XĐGTTL ở Việt Nam bao gồm những vấn đề lý luận chưa thống nhất cần làm rõ, những vấn đề mới cần nghiên cứu; đồng thời tác giả cũng đề xuất một số ý kiến đối với hoạt động nghiên cứu cũng như hoạt động quản lý lưu trữ từ TƯ đến địa phương. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI LIỆU Ở VIỆT NAM 1.
Tình hình nghiên cứu về XĐGTTL ở một số nƣớc và Việt Nam 1. Vài nét về lý luận XĐGTTL ở một số nước trên thế giới XĐGTTL luôn là một vấn đề thời sự, cấp bách trong công tác lưu trữ tại nhiều quốc gia. Do đó, lịch sử nghiên cứu về vấn đề này rất lâu đời và mang đặc điểm của mỗi quốc gia. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ xin phép nêu lên những nét khái quát nhất về lý luận XĐGTTL ở một số nước trên thế giới như Ba Lan, Đức, Liên Xô (cũ), Hoa Kỳ… Sở dĩ chúng tôi lựa chọn những quốc gia này vì đây là những quốc gia có ngành lưu trữ phát triển, đồng thời lại là những quốc gia đặt nền móng, đi đầu trong các xu hướng, quan điểm khác nhau về lý luận XĐGTTL.
Tài liệu, tài liệu lưu trữ xuất hiện từ khi xã hội loài người hình thành Nhà nước và giai cấp, khi mà giai cấp sử dụng tài liệu làm công cụ phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình. XĐGTTL được coi là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của công tác lưu trữ, song nhu cầu này lại xuất hiện sau các nghiệp vụ khác. Lý do chủ yếu là ban đầu, số lượng tài liệu được hình thành số lượng còn rất ít, mọi tài liệu sản sinh ra đều được lưu giữ lại. Tài liệu được sắp xếp chủ yếu theo vấn đề, theo nội dung và theo thể loại.
Đến cuối thời kỳ phong kiến Châu Âu, do tài liệu nhiều và đa dạng hơn trước nên việc sắp xếp, đánh giá tài liệu đòi hỏi phải có sự cải tổ. Nhu cầu xem xét nguồn để đánh giá lại tài liệu hiện có trong các kho lưu trữ đã tạo nên thời kỳ quá độ chuyển từ nguyên tắc nội dung sang nguyên tắc xuất xứ. Đây là một bước tiến bộ lớn trong công tác văn thư và lưu trữ gắn liền với tiến trình cải cách công tác văn phòng ở các nước tư bản Châu Âu từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX. Bởi lẽ nó đã hỗ trợ đắc lực trong công tác XĐGTTL mà chủ yếu là tạo cơ sở cho việc đánh giá và phê phán nguồn để xác định tính chất xác thực của tài liệu lưu trữ.
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, G. Lý thuyết XĐGTTL theo chức năng trong lưu trữ học tư sản được phát triển đầy đủ hơn trong các tác phẩm của các nhà lưu trữ học Tây Đức W.Sante và nhà lưu trữ học người Mỹ Theodore R. Các nhà lưu trữ học Xô Viết quan niệm rằng phương pháp chức năng - hệ thống chỉ là một trong những phương pháp tổng hợp, 1. Theo ý kiến của Rohr, Sante và Schellenberg, những tài liệu có giá trị bảo quản vĩnh viễn là những tài liệu của các cơ quan hành chính thiết chế giải quyết những vấn đề chủ đạo trong chính trị, quản lý.
Xem thêm: Theodore R.Schellenberg: Modern Archives: Principles and Techniques (Lưu trữ hiện đại: Nguyên tắc và phương pháp), University of Chicago Press, 1956 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xác định những tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu không chỉ căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ mà còn vào nội dung của chúng. Lúc này, đặt ra vấn đề cần nghiên cứu phạm trù “giá trị tài liệu” xác định mối tương quan qua lại giữa chủ thể mối quan hệ giá trị - người sử dụng tài liệu lưu trữ và đối tượng sử dụng - các đặc tính của thông tin tài liệu. Đến thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, ở Liên Xô và một số nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đề xuất ra các nguyên tắc mới trong XĐGTTL như nguyên tắc tính đảng, nguyên tắc lịch sử và nguyên tắc toàn diện-tổng hợp; hệ thống các tiêu chuẩn xác định giá trị gồm 14 tiêu chuẩn được phân thành 3 nhóm chính: Nhóm tiêu chuẩn xuất xứ của tài liệu, Nhóm tiêu chuẩn về nội dung tài liệu, Nhóm tiêu chuẩn về hình thức bên ngoài tài liệu. Sự hình thành hệ thống lý luận và phương pháp luận mới trong XĐGTTL mới đã thể hiện rõ tính chất hệ thống, khoa học, lịch sử vào các quan điểm biện chứng trong quá trình xem xét lựa chọn hoặc loại hủy tài liệu.
Các nguyên tắc đó đã làm thay đổi về bản chất các phương pháp cụ thể trong việc lựa chọn tài liệu hàng ngày. Trong một thời gian dài, kể từ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, trong lưu trữ học Xô Viết, phương pháp cơ bản được vận dụng trong đánh giá giá trị tài liệu là phương pháp xem xét trực tiếp từng văn bản. Thay vào đó, từ đầu những năm 60, 70, phương pháp mới đã được nghiên cứu và vận dụng đó là phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích chức năng, phương pháp thông tin và phương pháp sử liệu học. Mục đích của XĐGTTL là để bổ sung lưu trữ đã trở thành nguyên tắc của công tác lưu trữ, khác với mục tiêu để hủy tài liệu như trước đây.
Việc vận dụng những phương pháp mới trong đánh giá đã mang lại những hiệu suất thiết thực cho việc giải quyết những nhiệm vụ lựa chọn và bảo quản tài liệu. Ngoài ra, chúng cũng mở ra những triển vọng to lớn cho việc nghiên cứu mối liên hệ giữa lý luận XĐGTTL và các lĩnh vực khác của khoa học hiện đại, cho phép các nhà khoa học sử dụng có hiệu quả các thành tựu của khoa học hiện đại để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội và những phương hướng lý luận mới. Thí dụ như phương pháp thông tin trong khoa học thông tin. Lý luận thông tin không hoàn toàn đồng nhất với tiêu chuẩn nội dung tài liệu.Konnova (Liên Xô) cho rằng, thông tin được hiểu như một nội dung của sự phản ánh, song đồng thời cũng như quá trình phản ánh.
Thông tin là cái được phản ánh qua nội dung tài liệu nhưng lựa chọn thông tin và lựa chọn tài liệu không đồng nhất với nhau. Chủ trương giảm bớt khối lượng tài liệu khi lựa chọn chúng để bảo quản Nhà nước không đồng nghĩa với giảm thông tin và như vậy việc hủy tài liệu hết giá trị cũng không phải hủy bỏ các sự kiện lịch sử. Kết quả nghiên cứu lý luận về XĐGTTL trên thế giới đã được thể hiện qua nhiều sách giáo khoa, sách chuyên khảo để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các trình độ đào tạo cán bộ lưu trữ khác nhau. Ngoài ra, vấn đề này còn được quan tâm nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành về lưu trữ.
Đây là các diễn đàn để họ trao đổi, bàn luận về vấn đề XĐGTTL trong công tác lưu trữ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lịch sử XĐGTTL tại Việt Nam Hệ thống lý luận về lưu trữ Việt Nam phát triển tương đối chậm so với yêu cầu quản lý tài liệu lưu trữ. Thời kỳ Pháp thuộc, Paul Boudet (1888-1948), nhà lưu trữ, cổ tự học người Pháp đã có công xây dựng nền móng đầu tiên cho ngành Lưu trữ học Việt Nam.
Ông đã bỏ nhiều công sức xây dựng, điều hành mạng lưới các cơ quan lưu trữ và thư viện trên toàn cõi Đông Dương và góp phần đào tạo nên những chuyên gia đầu tiên của ngành Lưu trữ học Việt Nam. Năm 1934, ông cho xuất bản sách “Cẩm nang của người làm công tác lưu trữ”, trong đó đề cập đến “Khung phân loại tài liệu lưu trữ Đông Dương”. Những ngày đầu mới giành được chính quyền năm 1945 và sau khi chiến tranh chống thực dân Pháp kết thúc năm 1954, công văn, tài liệu bị phân tán đi các nơi, bị đốt phá hoặc bán để tái chế làm giấy. Để ngăn chặn việc tiêu hủy hồ sơ vô căn cứ và thực hiện phương châm “giữ nhiều hơn một chút”, Bộ Tuyên truyền đã ra Công văn số 426-TT2/NC ngày 20/4/1954 về việc bảo tồn hồ sơ, tài liệu cũ, dù của bất cứ chính quyền nào để lại đều là tài sản của quốc gia.
Lúc này, các bài giảng của các lớp huấn luyện cán bộ văn thư, lưu trữ đã bắt đầu giới thiệu một số tài liệu có tính chất lý luận về công tác đánh giá, tuy nhiên mới chỉ là những điểm mang tính nguyên tắc bảo quản đối với các loại tài liệu có THBQ khác nhau mà chưa đề cập đến tiêu chuẩn đánh giá cũng như chưa có thực tế kiểm nghiệm. Về cách tiến hành đánh giá, các cơ quan tham khảo “Biểu tham khảo về THBQ tài liệu lưu trữ nói chung của cơ quan nhà nước” của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tiếp đến các thập kỷ sau, ở miền Nam, các nhà cổ tự học và lưu trữ Sài Gòn đã chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoa học lưu trữ không những của Pháp, mà cả của Mỹ. Liên quan đến phần lý luận XĐGTTL, các tác giả thường sưu tầm, dịch thuật các ấn phẩm của nước ngoài.
Nhà lý luận quen thuộc về XĐGTTL của nước ngoài có ảnh hưởng đến văn khố Sài Gòn phải kể đến T.