CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải nguy hại 1. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại: Do tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động thương mại tiêu dùng, các hoạt động trong cuộc sống hay các hoạt động công nghiệp mà chất thải nguy hại có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau.
Việc phát thải có thể do bản chất của công nghệ, hay do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải có thể là vô tình hay cố ý. Tuỳ theo cách nhìn nhận mà có thể phân thành các nguồn thải khác nhau, nhìn chung có thể chia các nguồn phát sinh chất thải nguy hại thành 4 nguồn chính như sau: - Từ các hoạt động công nghiệp (ví dụ khi sản xuất thuốc kháng sinh sử dụng dung môi metyl clorua, xi mạ sử dụng xyanua, sản xuất thuốc trừ sâu sử dụng dung môi là toluen hay xylen…). - Từ hoạt động nông nghiệp (như sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại). - Thương mại (quá trình nhập-xuất các hàng độc hại không đạt yêu cầu cho sản xuất hay hàng quá hạn sử dụng…).
- Từ việc tiêu dùng trong dân dụng (ví dụ việc sử dụng pin, hoạt động nghiên cứu khoa học ở các Phòng thí nghiệm, sử dụng dầu nhớt bôi trơn, acqui các loại…). Trong các nguồn thải nêu trên thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất và phụ thuộc rất nhiều vào loại ngành công nghiệp (bảng 1. So với các nguồn phát thải khác, đây cũng là nguồn phát thải mang tính thường xuyên và ổn định nhất. Các nguồn phát thải từ dân dụng hay từ thương mại chủ yếu không nhiều, lượng chất thải tương đối nhỏ, mang tính sự cố hoặc do trình độ nhận thức và dân trí của người dân.
Các nguồn thải từ các hoạt động nông nghiệp mang tính chất phát tán dạng rộng, đây là nguồn rất khó kiểm soát và thu gom, lượng thải này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức cũng như trình độ dân trí của người dân trong khu vực.1 Một số ngành công nghiệp và các loại chất thải tương ứng [46,84] Công nghiệp Loại chất thải Sản xuất hóa chất - Dung môi thải và cặn chưng cất: dầu hỏa, benzen, xylen, etyl benzen, toluen, isopropanol, toluen disisocyanate, etanol, axeton, metyl etyl ketone, tetrahydrofuran, metylen chloride, 1,1,1-trichloroethane, trichloroethylene - Chất thải dễ cháy không theo danh nghĩa (otherwise specified) - Chất thải chứa axit/bazơ mạnh: amoni hydroxit, axit hydrobromic, axit clohydric, hydroxit kali, axit nitric, axit sulfuric, axit cromic, axit photphoric - Các chất thải hoạt tính khác: natri tím, peroxit hữu cơ, natri perchlorate, kali perchlorate, thuốc tím, hypoclorit, kali sunfua, natri sulfide. - Phát thải từ xử lý bụi, bùn - Xúc tác qua sử dụng Xây dựng Sơn thải cháy được: etylen diclorit, benzen, toluen, etyl benzen, metyl isobutyl ketone, metyl etyl ketone, chlorobenzene. Các chất thải dễ cháy không theo danh nghĩa (otherwise specified) Dung môi thải: metyl chloride, cacbon tetracloride, triclorotrifluoroethane, toluen, xylen, dầu hỏa, axeton. Chất thải axít/bazơ mạnh: amonium hydroxit, axit hydrobromic, axit clohydric, axit flohydric, axit nitric, phosphoric AIC, potssium hydroxit natri hydroxit, axit sunfuric.
Sản xuất gia công - Dung môi thải và cặn chưng: tetrachloroethylene kim loại trichloroethylene, methylenechloride, 1,1,1-trichloroethane, carbontetrachloride, toluen, benzen, trichlorofluroethane, chloroform, richlorofluoromethane, acetone, dichlorobenzene, xylene, dầu hỏa, sprits trắng, rượu butyl. Chất thải axít/bazơ mạnh: amonium hydroxit, axit hydrobromic, axit clohydric, axit flohydric, axit nitric, axit 4 e photphoric, nitrat, natri hydroxit, kali hydroxit, axit sulfuric, axit perchloric, axit axetic. - Chất thải xi mạ - Bùn thải chứa kim loại nặng từ hệ thống xử lý nước thải Chất thải chứa cyanide - Chất thải cháy được không theo danh nghĩa (otherwise specified) Chất thải hoạt tính khác: axetyl clorua, axit cromic, sulfide, hypoclorit, peroxit hữu cơ, perchlorate, permanganates - Dầu nhớt qua sử dụng Công nghiệp giấy - Dung môi hữu cơ chứa clo: carbon tetrachloride, methylenechloride, tetrachloroethulene, trichloroethylene, 1,1,1-trichloroethane, các hỗn hợp dung môi thải chứa clo. - Chất thải ăn mòn: chất lỏng ăn mòn, chất rắn ăn mòn, amoni hydroxit, axit hydrobromic, axit clohydric, axit flohydric, axit nitric, axit photphoric, kali hydroxit, sodium hydroxide, axit sufuric - Sơn thải: chất lỏng có thể cháy, chất lỏng dễ cháy, ethylene dichloride, chlorobenzene, methyl ethyl ketone, sơn thải có chứa kim loại nặng - Dung môi: chưng cất dầu mỏ Hiện tại, ở Việt Nam, chưa có điều tra đầy đủ và có qui mô, chi tiết nào liên quan đến thực trạng phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại.
Tuy nhiên xung quanh chủ đề này cũng đã có nhiều cơ quan thực hiện điều tra sơ bộ trên các phạm vi và đối tượng khác nhau, Các số liệu điều tra cho thấy chúng ta còn đang gặp phải bất cập trong công tác quản lý chất thải nguy hại tại các cơ sở sản xuất công nghiệp, và có thể nói chung là thị trường thu gom, tái chế và tiêu hủy chất thải này vẫn còn khá trôi nổi. Qua các tài liệu gần đây có thể nhận xét rằng trong các lọai hình chất thải công nghiệp nguy hại đang phát sinh thì các chủng loại sau đây được xem là điển hình vì có khối lượng lớn nhất: [12,13] - Dầu thải: là lượng dầu nhớt đã qua sử dụng, được thải ra từ các cơ sở sửa chữa, sản xuất và bảo trì các phương tiện vận chuyển, từ ngành công nghiệp sản 5 e xuất và chế biến dầu khí, từ ngành sản xuất các sản phẩm kim loại ngành công nghiệp chuyển tải điện…. Lượng dầu thải này một phần được tái sinh tại chỗ, một phần được các đơn vị thu gom (chủ yếu là tư nhân) để tái sinh, một phần được thu gom là nhiên liệu đốt, và vẫn còn một phần khác được đổ trực tiếp xuống cống rãnh thoát nước… - Chất thải chứa (nhiễm) dầu: bao gồm các loại giẻ lau dính dầu nhớt, các thùng và bao bì dính dầu nhớt, các chất thải từ các ngành sản xuất khác như sản xuất dày dép, da, ngành công nghiệp dầu khí, ngành sản xuất các sản phẩm kim loại,… Có thể nói đây là lượng chất thải nguy hại có khối lượng lớn nhất (vì lí do với tính nguyên tắc là nếu một bao bì có dính chất thải nguy hại thì có thể xem cả khối lượng bao bì đó cũng là chất thải nguy hại). Các loại hình chất thải này nhìn chung cũng được thu gom và tái sử dụng sau khi đã xử lý rất sơ sài (chủ yếu là rửa và sử dụng lại) và một số ít được đem đốt, số khác thì thải thẳng ra môi trường.
- Các chất hữu cơ tạp: bao gồm các sản phẩm thải là các chất hữu cơ nguy hại như các lọai thuốc bảo vệ thực vật (chiếm số lượng lớn nhất) và nhiều thành phần hữu cơ phức tạp khác. Nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ ngành sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật, các ngành giầy da, dầu khí, kim loại… Hiện trạng lưu trữ và thải bỏ loại hình chất thải này giống như chất thải nhiễm dầu. - Bùn kim loại: chủ yếu phát sinh từ các ngành công nghiệp xi mạ và sản xuất các sản phẩm kim loại, từ các công nghệ sản xuất và từ các công trình xử lý nước thải. Nhìn chung các lọai bùn nguy hại này hầu như không được thải bỏ một cách an toàn mà thường chuyên chở ra khỏi nhà máy và đổ thẳng xuống các bãi chôn lấp của thành phố.
- Bùn từ các hệ thống xử lý nước thải: về mặt nguyên tắc thì đây là nguồn tạo ra chất thải nguy hại khá đáng kể đòi hỏi phải có giải pháp thải bỏ an toàn nhất cho môi trường. - Cuối cùng là nhóm các hợp chất được xem là các hóa chất vô cơ tạp có chủng loại khá đa dạng nhưng khối lượng không lớn lắm được phát sinh ra từ các ngành như sản xuất hóa chất cơ bản, thuốc bảo vệ thực vật, xi mạ kim lọai, sản xuất các sản phẩm kim loại, sản xuất và tái chế ắc qui chì. Qui trình quản lý các chất thải này tại các doanh nghiệp hiện nay cũng chưa rõ ràng. - Ngoài ra, tuy không được xem là chất thải nhưng các vùng đất bị ô nhiễm, (nhất là ô nhiễm do dầu nhớt thải, ô nhiễm do chất hữu cơ…) cũng là các đối tượng quan trọng của công tác quản lý chất thải nguy hại, nhất là công tác phục hồi ô nhiễm môi trường.
Phân loại chất thải nguy hại Có nhiều cách phân loại chất thải nguy hại, nhưng nhìn chung đều theo 2 cách như sau: - Theo đặc tính (dựa vào định nghĩa trên cơ sở 4 đặc tính cơ bản) - Theo danh sách liệt kê được ban hành kèm theo luật o Theo đặc tính 1. - Là chất thải (lỏng hoặc không phải chất lỏng) có thể cháy qua việc ma sát, hấp phụ, hay tự biến đổi hóa học, khi bắt lửa, cháy rất mãnh liệt và liên tục (dai dẳng) tạo ra hay có thể tạo ra chất nguy hại, trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn. - Là khí nén - Là chất oxy hóa 2. Tính ăn mòn (Corrosivity) : pH là thông số thông dụng dùng để đánh giá tính ăn mòn của chất thải, tuy nhiên thông số về tính ăn mòn của chất thải còn dựa vào tốc độ ăn mòn thép để xác định chất thải có nguy hại hay không.
Nhìn chung một chất thải được coi là chất thải nguy hại có tính ăn mòn khi mẫu đại diện thể hiện một trong các tính chất sau: - Là chất lỏng có pH nhỏ hơn hoặc bằng 2 hay lớn hơn hoặc bằng 12,5. - Là chất lỏng có tốc độ ăn mòn thép lớn hơn 6,35 mm (0.25 inch) một năm ở nhiệt độ thí nghiệm là 55oC (130oF). Tính phản ứng (Reactivity) : Chất thải được coi là nguy hại và có tính phản ứng khi mẫu đại diện chất thải này thể hiện một tính chất bất kỳ trong các tính chất sau: - Thường không ổn định và dễ thay đổi một cách mãnh liệt mà không gây nổ - Phản ứng mãnh liệt với nước - Ở dạng khi trộn với nước có khả năng nổ - Khi trộn với nước, chất thải sinh ra khí độc, bay hơi, hoặc khói với lượng có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường. - Là chất thải chứa xyanua hay sunphua ở điều kiện pH giữa 2 và 11,5 có thể tạo ra khí độc, hơi, hoặc khói với lượng có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường.
7 e - Chất thải có thể nổ hoặc phản ứng gây nổ nếu tiếp xúc với nguồn kích nổ mạnh hoặc nếu được gia nhiệt trong thùng kín. - Chất thải có thể dễ dàng nổ hoặc phân hủy (phân ly) nổ, hay phản ứng ở nhiệt độ và áp suất chuẩn.