MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Huyện Phú Lương nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 20 km về phía Nam dọc theo quốc lộ 3. Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hoá, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ. Thực tiễn trong thời gian gần đây ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng, các vấn đề về tài nguyên nước đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước với duy trì các mục tiêu chất lượng nước… Ngày 06 tháng 05 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/NĐ-CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, trong đó quy định các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ, chức năng hành lang bảo vệ nguồn nước, phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.
Hành lang bảo vệ nguồn nước được lập để thực hiện các chức năng sau đây: - Bảo vệ sự ổn định của bờ và phòng, chống lấn chiếm đất ven nguồn nước; - Phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; - Bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, các loài động, thực vật tự nhiên ven nguồn nước; - Tạo không gian cho các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí, bảo tồn và phát triển các giá trị về lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước. Phú Lương là một trong những địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên có số lượng sông suối tương đối lớn, theo Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục lưu vực sông liên tỉnh và Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục lưu vực sông nội tỉnh, trên địa bàn tỉnh Phú Lương có tổng số 9 con sông lớn nhỏ, trong đó có 1 sông liên tỉnh và 8 sông nội tỉnh có chiều dài trên 10km. Các con sông trong khu vực có trữ lượng thủy văn cao, đủ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong huyện. Thủy chế các sông 1 suối trong vùng khá phức tạp, mà sự tương phản chính là sự phân phối dòng chảy không đều trong năm, mùa mưa nước dồn nhanh về các sông chính tạo nên dòng chảy xiết, lũ, ngập các tuyến đường.
Do đó, việc bảo vệ nguồn nước là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của tỉnh, cũng như một số địa phương liên quan, lập hành lang bảo vệ nguồn nước là một trong những hoạt động bảo vệ nguồn nước. Chính vì vậy, tăng cường kiểm soát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước, xác định được chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước; xác định sơ đồ hành lang bảo vệ nguồn nước; xây dựng bản đồ hành lang bảo vệ nguồn nước nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên nước, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước với duy trì các mục tiêu chất lượng nước… thì việc thực hiện việc “Nghiên cứu xác định lập danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” là rất cần thiết và cấp bách. Mục đích của Đề tài Đề tài được thực hiện nhằm các mục đích sau: + Lập được danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ; + Xác định được chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước; + Xây dựng sơ đồ xác định hành lang bảo vệ nguồn nước; + Xây dựng bản đồ hành lang bảo vệ nguồn nước 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên nước mặt, công trình khai thác sử dụng nước, hiện trạng xả thải vào nguồn nước Phạm vị nghiên cứu: Huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên 4.
Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra, đánh giá; - Phương pháp nghiên cứu hiện trường và điều tra khảo sát thực địa; - Phương pháp kế thừa; - Phương pháp kinh nghiệm; - Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp; - Phương pháp xây dựng bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS). 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG 1.1 Nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1.1 Nhu cầu sử dụng nước trên thế giới Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước. Hơn nữa, do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn. Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn, hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới. Nhằm hạn chế nhu cầu cũng như chống thất thoát nước, đồng thời tăng cường quản lý tài nguyên nước, nhiều chính sách đã được áp dụng. Luật pháp về bảo vệ và quản lý tài nguyên nước đã được ban hành tại nhiều quốc gia. Song, trên thực tế, những cải cách, đổi mới này vẫn chưa thực sự có hiệu quả, công việc thường chỉ giới hạn trong ngành nước.
Vì vậy, muốn thực sự có hiệu lực, các quyết định cho vấn đề nước cần thiết có sự tham gia của lãnh đạo của tất cả các ngành, trong đó có các ngành nông nghiệp, năng lượng, thương mại và tài chính, bởi tất cả các ngành này đều có ảnh hưởng quyết định đến quản lý tài nguyên nước. Ngoài ra, sự cộng tác, phối hợp giữa khối nhà nước với khối tư nhân và cộng đồng xã hội cũng hết sức quan trọng. - Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp [10].
- Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: 3 Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5 -10 lít nước/người/ngày. Ngày nay, do sự phát triển của xã hội nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn. Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như môi trường, giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội. nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội.
- Áp lực từ sự gia tăng nhu cầu về nước: Nhu cầu về nước chưa bao giờ cao như hiện nay. Khai thác nước sạch đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua. Diện tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quan mật thiết với sự gia tăng dân số. Dân số thế giới hiện nay là 6,6 tỷ người và mỗi năm tăng thêm 80 triệu người.
Điều đó có nghĩa, nhu cầu về nước sạch mỗi năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối. Song, đáng tiếc là 90% số dân trong số 3 tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước. Gia tăng dân số đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu lương thực và tất nhiên nhu cầu về nước cũng tăng. Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là đối tượng tiêu thụ nhiều nước nhất, chiếm tới 70% lượng nước tiêu thụ (so với 20% dành cho công nghiệp và 10% dùng trong sinh hoạt đời sống).
Nếu không có quy hoạch sử dụng hợp lý, nhu cầu nước cho nông nghiệp trên toàn thế giới sẽ tăng lên từ 70% đến 90% vào năm 2050, mặc dù sử dụng tài nguyên nước của một số nước hiện đã chạm đến mức giới hạn. Đồng thời, những thay đổi về lối sống và thói quen ăn uống đã diễn ra trong nhiều năm gần đây, nhất là gia tăng tỷ lệ mức tiêu thụ thịt và các sản phẩm bơ sữa tại những nước vừa giàu lên đã tác động rất lớn đến tài nguyên nước. Để sản xuất 1 kg ngũ cốc cần từ 800 đến 4000 lít nước, trong khi đó để có được 01 kg thịt bò phải tốn từ 2000 đến 16000 lít nước. Nếu vào thời điểm năm 1985, một người Trung Quốc tiêu thụ 20 kg thịt thì vào năm 2009 con số này đã là 50 kg.
Điều đó có nghĩa, Trung Quốc cần có thêm 390 km3 nước. Để giúp so sánh, năm 2002, lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại Thụy Điển và tại Mỹ tương ứng là 76kg và 125 kg. Sản xuất nhiên liệu sinh học tăng nhanh trong những năm qua đã gây những tác động đáng kể đến nhu cầu về nước. Sản lượng ethanol năm 2008 là 77 tỷ lít, gấp 3 lần giai 4 đoạn từ 2000 đến 2007 và dự kiến sẽ đạt 127 tỷ lít vào năm 2017.
Mỹ và Brazil là các nhà sản xuất hàng đầu, đáp ứng 77% nhu cầu của toàn thế giới. Năm 2007, 23% sản lượng ngô ở Mỹ và 54% mía đường của Brazil là dành để sản xuất ethanol. Trong năm 2008, 47% lượng dầu thực vật sản xuất tại Cộng đồng Châu Âu được dùng làm nhiên liệu diesel sinh học. Tuy vậy, mặc dù việc gia tăng sử dụng cây trồng cho nhiên liệu sinh học, nhưng tỷ lệ so với tổng sản lượng vẫn còn nhỏ.
Trong năm 2008, ước tính thị phần về ethanol trên thị trường nhiên liệu vận tải của Mỹ, Brazil và Cộng đồng Châu Âu tương ứng là 4. Với khả năng giúp làm giảm bớt sự lệ thuộc vào năng lượng chất đốt, xem ra với công nghệ hiện tại, nhiên liệu sinh học đang đặt lên môi trường và đa dạng sinh học một áp lực không tương ứng. Vấn đề chính là phải cần một lượng lớn nước và phân bón để gieo trồng.