Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nông thôn mới Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới.
Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới. Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/Q Đ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí là: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội. Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định tại điều 3: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia.
Từ Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng ta thấy nông thôn mới là nông thôn toàn e 5 diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng. Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
Khái niệm về môi trường nông thôn Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý, Môi trường được định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (thông qua 23/06/2014): “là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Và môi trường được tạo thành từ các yếu tố bao gồm: “đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác” e 6 Định nghĩa trên đưa ra mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố vất chất nhân tạo đó là “quan hệ mật thiết với nhau”. Tóm lại yếu tố tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với yếu tố vật chất nhân tạo, giữa chúng có sự tác động qua lại với nhau, yếu tố này làm tiền đề cho yếu tố kia phát triển.Trong mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo thì con người là trung tâm. Bởi vì mọi hoạt động của con người đều diễn ra trong môi trường.
- Môi trường là địa bàn để con người thực hiện hoạt động của mình. - Môi trường bảo đảm những điều kiện để con người thực hiện chu trình sống của mình. - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật. - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học. “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT. Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. ở những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày càng được quan tâm.
Người ta dần dần dùng mức độ tốt xấu của môi trường, e 7 để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa, Trần Thiên Cường, Trần Khắc Hiệp, Trịnh Thị Hải Yến, 2003 [12]). Các khái niệm thuật ngữ khác - Khái niệm tài nguyên nước: Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là một phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật và nhân loại trên trái đất. Nước quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường.
Tài nguyên nước vừa là nguồn tài nguyên hữu hạn và vô hạn. Nước là một tài nguyên vô hạn. Nước trên Trái đất có số lượng rất lớn, với trữ lượng nước là 1,45 tỷ km3 bao phủ 71% diện tích trên Trái đất tương đương với một lớp nước dày 2700m khi trải ra trên toàn bộ bề mặt trái đất. Tổng sản lượng nước trên Trái đất gồm 97,5% nước biển và chỉ có 2,5% nước ngọt.
Trong 2,5% nước ngọt đó, có: 0,4% nước mặt gồm sông ngòi (1,6%), ao hồ (67,4%), và hơi nước trong không khí (9,5%); 30,1% nước ngầm; phần còn lại là những tảng băng trải rộng ở Bắc và Nam cực. Hiện nay, sự suy thoái của các lưu vực sông cùng với sự gia tăng ô nhiễm nước khiến nguồn nước sạch ngày càng giảm sút nhanh chóng tại nhiều nơi, đẫn đến tài nguyên nước trở nên hữu hạn và cần phải sử dụng một cách tiết kiệm. Tài nguyên nước bao gồm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm. - Khái niệm nước sạch và nước hợp vệ sinh: Theo quy định của Luật tài nguyên nước năm 1998: " Nước sạch" là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của Tiêu chuẩn Việt Nam.
Theo tài liệu hướng dẫn triển khai Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành: “Nước hợp vệ sinh là nước được lấy từ các công trình cấp nước hợp vệ sinh e 8 và phải đảm bảo các tiêu chí: Trong, không mầu, không mùi, không vị và không có các thành phần gây ảnh hướng đến sức khỏe của con người”. - Khái niệm quản lý Nhà nước về tài nguyên nước: Quản lý nhà nước về nguồn tài nguyên nước sạch là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan, đoàn thể , tổ chức, cá nhân được Nhà nước ủy quyền, thay mặt nhà nước để tiến hành hoạt động quản lý về tài nguyên nước. Theo đó, chúng ta có các cơ quan chuyên ngành ở Trung ương và địa phương để quản lý tài nguyên nước. Ở Trung ương, Bộ tài nguyên và môi trường thay mặt Nhà nước quản lý những vấn đề liên quan tới tài nguyên và môi trường, trong đó có tài nguyên nước.
Ở Cấp tỉnh có sở tài nguyên và môi trường là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Ở huyện có phòng tài nguyên và môi trường. Ở cấp xã có cán bộ phụ trách vấn đề tài nguyên môi trường trên địa bàn xã. - Cơ sở sản xuất kinh doanh: Cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm: Các cơ sở sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp), các cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản của hộ cá thể, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc các doanh nghiệp đóng trên địa bàn.
- Không có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp: Không có các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp trên địa bàn xã gồm các nội dung: + Không có cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động gây ô nhiễm môi trường. + Trong mỗi thôn (bản, buôn, ấp) đều có tổ dọn vệ sinh, khai thông cống rãnh, phát quang dọn cỏ ở đường thu gom về nơi quy định để xử lý. + Định kỳ tổ chức tổng vệ sinh với sự tham gia của mọi người dân. e 9 + Tổ chức trồng cây xanh ở nơi công cộng, đường giao thông và các trục giao thông chính nội đồng.
+ Tôn tạo các hồ nước tạo cảnh quan đẹp và điều hoà sinh thái. + Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch. Cơ sở lý luận Quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm: công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đô thị hóa, kiểm soát dân số và bảo vệ môi trường sinh thái.
Mục tiêu là phát triển nông thôn bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế vùng nông thôn, người dân có cuộc sống đầy đủ, sung túc, đời sống tinh thần được nâng cao, nhưng phải đảm bảo về nội dung nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn.