CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Một số khái niệm về định mức 1. Đặc điểm xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Công trình thuỷ lợi phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, địa hình, và thực trạng hệ thống công trình nên không thể xây dựng định mức chung cho toàn ngành mà phải xây dựng riêng trên cơ sở từng hệ thống với đặc điểm, điều kiện nguồn nước, địa hình của hệ thống cụ thể. Do vậy, định mức trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là định mức mang tính hệ thống cụ thể, có những đặc điểm riêng, khác với các định mức trong xây dựng cơ bản, định mức sản xuất công nghiệp.
Công tác quản lý khai thác công trình thuỷ nông bao gồm nhiều loại công việc khác nhau, mỗi một loại công việc lại có những đặc điểm khác nhau. Có những công việc chỉ mang tính chất trông coi, quản lý không sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm, nhưng cũng có những việc mang tính lao động để sản xuất. Lao động quản lý khai thác công trình thuỷ nông rất phức tạp, vừa mang tính lao động kỹ thuật và lao động chân tay, tính chất công việc không đồng nhất và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và thực trạng, thể loại công trình (ví dụ cùng là vận hành một cống có công đóng mở bằng điện, bằng cơ khí và cũng có cống đóng mở bằng thủ công) và mùa vụ, đặc điểm sinh lý phát triển của cây trồng. Một lao động phải kiêm nhiệm nhiều công việc có yêu cầu chuyên môn khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm sản xuất, ví dụ công nhân vận hành thì ngoài những thời gian vận hành máy thì thời gian khác phải làm công tác bảo vệ, kiểm tra phát hiện và xử lý công trình.
Mỗi loại định mức được tính toán theo từng quy trình riêng với thành phần cấp bậc công việc khác nhau. Có định mức tính theo hao phí lao động cho một công đoạn sản xuất ra sản phẩm, có định mức được tính theo khối lượng công việc được 2 giao và định mức tổng hợp tính cho một đơn vị sản phẩm tưới, tiêu theo dịch vụ hoặc bình quân trong một năm. Định mức kinh tế kỹ thuật tổng hợp trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi phụ thuộc vào đặc điểm điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương và thời tiết mỗi năm. Năm hạn hán hoặc úng lụt nghiêm trọng thì yêu cầu nước tưới hoặc tiêu nhiều nên hao phí lao động lớn, nhưng thu nhập lại thấp hơn.
Năm mưa thuận gió hoà, hao phí lao động ít nhưng có khi thu nhập lại cao. Trong phương pháp luận về xây dựng các chỉ tiêu định mức cho công tác quản lý khai thác sẽ được xác định trên cơ sở điều kiện công trình bình thuờng và điều kiện về thời tiết, khí tượng thường xuyên. Khi các điều kiện thực tế khác với những điều kiện thường xuyên thì cần phải điều chỉnh định mức trên cơ sở xây dựng bảng hệ số điều chỉnh theo các điều kiện khí tượng khác với điều kiện thường xuyên. Một số khái niệm về định mức Định mức là mức được quy định, được xác định bằng cách tính trung bình tiên tiến của hoạt động sản xuất trong một phạm vi xác định (cho từng loại sản phẩm, trong từng doanh nghiệp, tại từng địa phương).
Mức hao phí các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất được hiểu là các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực. Mức hao phí các yếu tố sản xuất là số lượng hao phí từng yếu tố sản xuất để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi: là các mức hao phí cần thiết về lao động, vật tư, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu để hoàn thành nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế theo kế hoạch được giao. - Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi là mức hao phí được quy định để thực hiện một yêu cầu về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật và điều kiện thực tế của hệ thống công trình.
3 - Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình quy phạm kỹ thuật về quản lý vận hành công trình thuỷ lợi do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và hiện trạng công trình, máy móc thiết bị, phương tiện quản lý của đơn vị. - Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi gồm nhiều loại định mức khác nhau. Bài trình bày này giới thiệu 7 loại định mức cơ bản, bao gồm: 1) định mức lao động; 2) định mức sử dụng nước; 3) định mức tiêu hao điện năng cho bơm tưới; 4) định mức tiêu hao điện năng cho bơm tiêu; 5) định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố định; 6) định mức tiêu hao vật tư, nguyên nhiên liệu cho bảo dưỡng vận hành máy móc thiết bị; và 7) định mức chi phí quản lý doanh nghiệp. Vai trò của hệ thống công trình thủy lợi Theo thống kê điều tra ngày 1/4/1999 dân số nước ta là 76.753 người trong đó có 37.
Số người sống ở nông thôn là 58.770(chiếm 76,5%) và ở thành thị là 17.983 người (chiếm 23,5%) với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,1% từ năm 1979-1989 và là 1,7% từ năm 1989-1999. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn đâng là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất.
Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá - xã hội. Các nguồn nước trong thiên nhiên (nước mặt ,nước ngầm) và mưa phân bố không đều theo thời gian, không gian. Mặt khác yêu cầu về nước giữa các vùng cũng rất khác nhau, theo mùa, theo tháng, thậm chí theo giờ trong ngày. 4 Như vậy có thể nói: Thuỷ lợi là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn chế những thiệt hại do nước có thể gây ra.
Vai trò của hệ thống công trình thuỷ lợi đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta: * Những ảnh hưởng tích cực: Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước. Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thơi tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta. Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như: Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất. Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến.
Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần. Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ. Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm. Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng.
Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu 5 lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá. Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch. Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp. Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều.
từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất .