Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Cỏ (Poaceae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông thôn và miền núi.
Ngoài việc sử dụng tre trúc cho xây dựng, một số loài tre trúc còn cho măng ăn ngon như: măng mai, măng luồng, măng tre, măng mạy lay, măng nứa, có khi là măng đắng như măng vầu. Đây là nguồn thực phẩm tốt, và cũng là nguồn thu nhập quan trọng của người dân miền núi. Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng (kể cả tre trúc bản địa và nhập nội) đang phát triển mạnh mẽ, góp phần xoá đói giảm nghèo và tăng đáng kể giá trị lợi ích của đất trồng rừng và tăng việc làm cho người dân. Mai cây có tên khoa học Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Li tên thường gọi là Tre mai thuộc phân họ tre trúc (Bambusoideae), được gây trồng khá rộng rãi ở miền Bắc.
Vì vậy có nhiều tên địa phương: Mai ống, Mạy ngừu, Mai Định Hoá, Mai cây Tre mai, Mai, Mạy puốc, Mạy mươi (Thái, Tày, Nùng), Lủng hủ (H'mông). Mai cây là loài tre to, thân ngầm dạng củ, thân tre mọc khóm thưa, ngọn rủ, cao 15- 25 m, đường kính phổ biến 12-15cm, bề dày vách thân 1- 3cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Đặc biệt, theo các kết quả nghiên cứu cho thấy măng mai là loại thực phẩm quí, đặc biệt chế biến thành loại măng "lưỡi lợn". Đó là loại măng sau khi luộc, được thái thành miếng lớn và phơi hoặc sấy khô.
Măng mai có giá trị dinh dưỡng cao và giá thành cao dễ tiêu thụ cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Tương tự, thân của Mai cây được dùng làm nguyên liệu bột m 2 giấy và xây dựng cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh cây Mai cây vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao như vốn có của nó. Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dân chưa nắmđược kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên số lượng giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình.
Măng mai là loại thực phẩm quí, đặc biệt chế biến thành loại măng "lưỡi lợn". Đó là loại măng sau khi luộc, được thái thành miếng lớn và phơi hoặc sấy khô. Măng mai có giá trị dinh dưỡng cao và giá thành cao dễ tiêu thụ cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Tương tự, thân của Mai cây được dùng làm nguyên liệu bột giấy và xây dựng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Ngoài giá trị về lấy măng, Mai cây còn giá trị rất lớn về lấy thân làm nguyên vật liệu phục vụ cho công nghiệp xây dựng và công nghiệp giấy. Thân Mai cây được dùng nhiều để làm cột nhà, dui mè, đòn tay. Cột nhà làm bằng thân mai rất bền nếu được ngâm trong nước một năm. Do lóng có đường kính lớn nên mai còn được dùng làm bè mảng, ống đựng nước và máng nước, dát giường, chế biến hàng mỹ nghệ xuất khẩu.
Hàm lượng cellulose trong thân Mai cây chiếm hơn 50%; sợi dài 1,4-1,6mm (trung bình 2,7mm). Như vậy, để bảo tồn và phát triển loài cây này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học làm cơ sở đề xuất các giải pháp khai thác và phát triển loài cây trên địa bàn. Với ý nghĩa đó, tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn và phát triền loài Mai cây (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Li) tại tỉnh Bắc Kạn" nhằm đưa ra một số giải phát bảo tồn và phát triển giống Mai cây đạt năng suất và hiểu quả kinh tế, góp phần nâng cao giá trị rừng trồng Mai cây cũng như góp phần cải thiện đời sống người dân tham gia trồng Mai cây ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đặc điểm lâm học, đa dạng di truyền và giá trị nguồn gen Mai cây (lấy măng và thân).
- Bảo tồn và phát triển được nguồn gen Mai cây có năng suất, chất lượng cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. - Thực hiện được kỹ thuật nhân giống vô tính loài cây Mai cây. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được giá trị nguồn gen, hoàn thành quy trình chọn giống và nhân giống vô tính Mai cây.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triền loài Mai cây tại Bắc Kạn cũng như góp phần cải thiện đời sống người dân tham gia trồng Mai cây ở các tỉnh miền núi phía Bắc. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới a) Các nghiên cứu tre trúc Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae), trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998). Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á.
Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị.
Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng. Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: nhân giống, trồng, khai thác, sử dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định. Trung Quốc có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc trồng lấy măng với năng suất trung bình 10 - 20 tấn/ha/năm và cao nhất đạt 30 - 35 tấn/ha/năm.
Trung Quốc cũng có khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân tre. Tổng sản lượng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, Xiao Jianghua, 1996). Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là các nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học công trình "Các loài tre trúc" của Gamble m 5 (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianmar, Malayxia và Inđônexia. Đến đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, khai thác….
Koichiro Ueda (1960) đã tiến hành thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng Trúc sào (Phyllostachys edulis) chiếm 60 - 80%, Phyllostachys reticulata 30-50% từ đó đề cập đến vấn đề khai thác tận dụng măng và áp dụng biện pháp bón phân để tăng số lượng và kích thước của thân khí sinh. Victor Cusack (1997) đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Theo Alrasjid (2003) tre được coi là một trong những loài cây sử dụng “tham lam” dinh dưỡng của đất. Vì vậy, không sử dụng phân bón trong trồng tre sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức sản xuất của đất, dẫn đến đất rừng trồng tre sẽ nhanh chóng bị suy thoái.
Fu Maoyi & Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh. Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác, nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không thường xuyên của nhiều loài tre. Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm.
Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả. Late Bentham (1883) đã đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là: Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae. Đây là hệ m 6 thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển, hoàn thiện việc phân loại tre sau này. Bước sang thế kỷ 20, Holttum (1956) đã mở rộng và xây dựng hệ thống phân loại tre, dựa trên cơ sở chủ yếu là cấu trúc bầu nhuỵ, ông đã chia các chi thành 4 nhóm: Schizostachyum, Oxytenanthera, Bambusa - Dendrocalamus và Arundinaria.
Năm 1986, Clayton và Renvoize đã đưa ra bảng phân loại với 49 chi của Bambusoideae và được chia ra 3 nhóm phụ là: Arundinarinae Benth, Bambusinae Presl và Melocanninae Reichenb. Cơ sở của hệ thống phân loại này là dựa trên các đề nghị của Holttum (1956), mà tiêu chuẩn căn bản là cấu trúc của bầu nhuỵ và các phần phụ của nó. Năm 1987, Soderstrom và Ellis đã đề nghị một hệ thống phân loại, dựa trên cơ sở các đặc điểm về cấu tạo giải phẫu lá, cấu trúc bông hoa, kiểu hoa và quả. Hai ông đã đưa ra 54 chi tre được sắp xếp trong 9 nhóm phụ và 5 chi chưa xác định chính xác.
Những năm tiếp theo đã có nhiều nghiên cứu về phân loại và bổ sung một số loài, chi thuộc các nhóm phụ khác nhau vào hệ thống phân loại trên, như Stapleton (1994), Widjaja (1987), Wong (1993a).