Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước đã khảng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú, đa dạng chúng ta có thể thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng, làm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng cây trồng là những tính trạng số lượng, ngoài phụ thuộc vào giống chúng còn chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của điều kiện ngoại cảnh.
Do vậy, để có giống tốt đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương thì trước khi đưa vào sản xuất cần được khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, độ ổn định, khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh bất thuận thì mới lựa chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng nhằm phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống mới để đưa vào danh mục giống Nhà nước cho phép sản xuất và lưu thông trong các vùng, các địa phương và mùa vụ thích hợp. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng xếp thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 1961- 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1961 105,56 19,42 205,03 2004 147,45 49,43 728,97 2005 148,04 48,21 713,68 2006 146,74 48,17 706,85 2007 158,39 49,88 790,12 2008 162,69 51,06 830,61 2009 158,74 51,67 820,20 2010 164,05 51,89 851,27 2011 171,38 51,77 887,13 2012 179,06 48,90 875,49 2013 186,02 54,71 1.038,28 Nguồn: FAOSTAT - 2016 [26] Qua bảng số liệu 1.1 cho chúng ta thấy: Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,56 triệu ha, năng suất 19,42 tạ/ha, sản lượng 205,03 triệu tấn, đến năm 2014 diện tích trồng ngô thế giới đạt 183,32 triệu ha, năng suất bình quân 56,64 tạ/ha, sản lượng 1. Năng suất và sản lượng ngô thế giới tăng dần qua các năm là nhờ sử dụng giống ngô lai và kỹ thuật trồng trọt tiên tiến, năng suất ngô trên thế giới đã tăng 2,92 lần và sản lượng tăng 5,06 lần trong giai đoạn 1961 - 2014. Qua bảng số liệu 1.2 cho thấy: Năm 2014, Trung quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới (35,98 triệu ha). Hoa Kỳ là nước có sản lượng 6 ngô lớn nhất (361,09 triệu tấn); Một số nước có năng suất ngô cao như Các tiểu vương quốc Ả rập (375 tạ/ha), Israel (340,98 tạ/ha), Ý, Đức, Hy lạp,.
nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô không lớn. Nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác và ứng dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hóa và công nghệ tin học… vào sản xuất ngô nên năng suất ngô của các nước ngày càng tăng. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Hoa Kỳ 33,64 107,33 361,09 Trung Quốc 35,98 59,98 215,81 Braxin 15,43 51,76 79,88 Mexicô 7,06 32,96 23,27 Ấn Độ 8,60 27,52 23,67 Ý 0,87 106,28 9,24 Đức 0,48 106,83 5,14 Hy Lạp 0,18 119,62 2,17 Israel 0,005 340,98 0,16 Nguồn: FAOSTAT - 2016[26] Theo FAO, việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ 21. Xuất 7 khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Achentina, Hungari,…[12].
Theo Hội đồng ngũ cốc Quốc tế IGC (International Grains Council), năm 2015, tổng lượng ngô tiêu thụ trên thế giới là 969 triệu tấn, trong đó 111 trệu tấn dùng làm lương thực, 565 triệu tấn dùng làm thức ăn chăn nuôi, 265 triệu tấn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp; Dự báo tổng nhu cầu sử dụng ngô trên thế giới vào năm 2020 là 1.062 triệu tấn, trong đó 118 trệu tấn dùng làm lương thực, 622 triệu tấn dùng làm thức ăn chăn nuôi, 281 triệu tấn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp [28]. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, sản xuất lương thực luôn là một nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài, được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước. Trong những năm gần đây do giá trị kinh tế và nhu cầu về ngô trong nước cũng như trên thế giới có xu hướng tăng lên, sản xuất ngô đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô có những bước tiến đáng kể.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2015 được trình bày trong bảng số liệu 1.3, cho thấy: Sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2003 cả nước trồng được 912,7 nghìn ha, năm 2015 là 1.179,3 nghìn ha, tăng hơn 266,6 nghìn ha so với năm 2003. Việc tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho năng suất ngô liên tục tăng từ 34,4 tạ/ha năm 2003 lên 44,8 tạ/ha năm 2015. Sản lượng ngô đã tăng từ 3.136,3 nghìn tấn năm 2003 lên mức 5.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2015 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Năm 2003 912,7 34,4 3.281,0 Nguồn: Tổng cục Thống kê - 2016 [29] Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng ngành sản xuất ngô Việt Nam đang có rất nhiều thách thức đặt ra, đó là: Tuy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới và khu vực thì năng suất ngô của nước ta còn thấp, năm 2014 năng suất ngô của Việt Nam là 44,1 tạ/ha, bằng 77,9% năng suất bình quân của thế giới và và rất thấp so với năng suất thí nghiệm. 9 Cùng với khoai mì, gạo vỡ, cám gạo, ngô là một trong những cây trồng chính cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên, các sản phẩm từ ngô ở trong nước lại không đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong những năm gần đây, khiến kim ngạch nhập khẩu ngô nước ta hàng năm luôn ở mức 2 triệu tấn. Vì thế, các nhà chế biến ngô phải chịu áp lực lớn trong việc tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường.
Tăng năng suất trung bình bằng việc sử dụng các giống cây trồng năng suất cao được xem là phương án phù hợp nhất để đạt được mục tiêu của chính phủ trong việc tăng sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng ngô của Việt Nam trong năm 2015 đạt 5,28 triệu tấn, giảm 34.000 tấn so với dự báo do diện tích gieo trồng hạn chế, năng suất thấp do thời tiết bất lợi ở miền Bắc và giá ngô quốc tế thấp. Diện tích thu hoạch trong năm 2016 ước đạt 1,3 triệu héc-ta, giữ nguyên so với những dự báo từ trước của Bộ. Đây là kết quả của chính sách chuyển đổi sang trồng ngô tại những vùng mà việc trồng lúa cho năng suất thấp.
Tuy nhiên, do giá ngô trên thị trường quốc tế thấp nên diện tích thu hoạch ngô trong năm 2017 của Việt Nam sẽ vẫn giữ nguyên ở mức 1,3 triệu héc-ta. Với việc các giống ngô biến đổi gen dần dần được sử dụng, năng suất ngô trung bình trong năm 2016 và 2017 được dự kiến lần lượt đạt khoảng 4,6 và 4,8 tấn/ha. Nhìn chung, sản lượng ngô tăng chủ yếu là nhờ năng suất trung bình cao hơn [24]. Tổng mức tiêu thụ ngô tại Việt Nam là rất lớn.
Năm 2013, tổng mức tiêu thụ ngô trong cả nước đạt 9,38 triệu tấn, năm 2014 đạt 12,71 triệu tấn và năm 2015 đạt 11,74 triệu tấn, trong đó chỉ hơn 10% được sử dụng làm thực phẩm, làm giống hoặc sản xuất công nghiệp; hơn 85% còn lại chủ yếu được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi và phục vụ các mục đích khác. Dù nhu cầu sử dụng ngô của Việt Nam là rất lớn, tuy nhiên sản xuất trong 10 nước cơ bản mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu, khoảng 60% còn lại vẫn phải nhập khẩu; trữ lượng xuất khẩu hiện chưa bằng 1/10 so với nhập khẩu [25]. Để đáp ứng nhu cầu ngô hiện nay cần phải tăng năng suất, sản lượng sản xuất ngô của nước ta, những giống ngô lai năng suất cao từ 12 – 13 tấn/ha cho những vùng trồng ngô có điều kiện thuận lợi và đạt từ 6 – 7 tấn/ha cho những vùng trồng ngô khó khăn. Do đó việc nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai năng suất cao, thích nghi với các vùng sinh thái là rất cần thiết.
Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Quảng Ninh Cũng như các tỉnh thành trên Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, ngô cũng là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau cây lúa. Ngô chủ yếu được trồng trên vùng đất trồng cây hàng năm bao gồm: Trồng trên đất 2 vụ lúa + 1 vụ ngô, 1 vụ lúa + 1 vụ ngô, đất trồng màu,. Qua bảng số liệu 1.4 cho thấy: Diện tích gieo trồng của tỉnh hàng năm ở mức ổn định là khoảng 6 nghìn ha, cao nhất vào năm 2008 lên tới 6,8 nghìn ha.