Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận và thực tiễnliên quan thu nhập dựa vào rừng 1.Khái niệm và định nghĩa *Thu nhập hộ gia đình nông thôn Thu nhập biểu thị bằng một lượng giá trị hoặc hiện vật mà con người lao động nhận được bằng lao động của mình. Như vậy, với nền kinh tế quốc dân, thu nhập là tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian. Với chủ doanh nghiệp tư nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Với người công nhân, thu nhập của họ chính là tiền lương, tiền công mà họ nhận được.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ diễn ra rất đa dạng, ngoài sản xuất nông nghiệp hộ còn tham gia vào các ngành nghề khác như công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựng và nghề rừng. Chính vì thu nhập của hộ nông dân bao gồm toàn bộ những kết quả của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ và một số ngành nghề khác như sửa chữa, sản xuất nguyên vật liệu, chết biến nông sản. *Thu nhập dựa vào rừng Cho đến nay, chưa có định nghĩa nào về thu nhập dựa vào rừng. Tuy nhiên, có thể hiểu thu nhập dựa vào rừng là những thu nhập được mang lại thông qua các hoạt động liên quan đến rừng.
Thu nhập này gồm khai thác các sản phẩm từ rừng như gỗ, lâm sản ngoài gỗ, và các sản phẩm mang lại gián tiếp từ chăn thả gia súc, rừngcủi. Theo FAO nhận định có sáu phương thức sử dụng nguồn rừng có tiềm năng giúp cho quá trình giảm nghèo. Đó là: (1) Chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả hoạt động canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc trên đất rừng), (2) Gỗ (khai thác gỗ từ rừng trồng, rừng tự nhiên trong phạm vi rừng sản xuất của địa phương), (3) Các lâm sản ngoài gỗ (bao gồm LSNG thu hái rừng rừng c 6 tự nhiên, rừng trồng trong phạm vi rừng phòng hộ, rừng sản xuất của địa phương), (4) Dịch vụ môi trường, (5) Việc làm (tạo việc làm từ các hoạt động lâm nghiệp như: trồng rừng, khai thác rừng, công nhân trong các cơ sở, xưởng chế biến, các công ty lâm nghiệp,. Đối với các khái niệm về 'dựa vào rừng’còn tồn tại nhiều vấn đề.
Mặc dù nó có thể đề cập một cách lỏng lẻo đển bất kỳ người dân sống dựa vào các sản phẩm rừng phục vụ sinh kế của họ, như là một mức độ nào 'phụ thuộc vào rừng, sử dụng lỏng lẻo này làm lu mờ sự phân biệt cơ bản giữa các loại khác nhau của các mối quan hệ[25]. * Lâm sản ngoài gỗ Khái niệm: Ở Việt Nam, trong thời gian dài, lâm sản được chia thành hai loại: Lâm sản chính (những sản phẩm gỗ), và lâm sản phụ, (những sản phẩm không phải gỗ như mây tre, cây thuốc, dầu nhựa…). Từ năm 1961, lâm sản phụ được thay bằng từ “đặc sản sản rừng” (ĐSR) và từ cuối thế kỷ XX, cả hai từ trên được thay thế bằng một thuật ngữ: Lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Định nghĩa: Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “LSNG (Non timber forest product-NTFP, hoặc Non wood forest products-NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn ngốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” [20].
LSNG bao gồm "tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội. Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm. thuộc về lĩnh vực phục vụ của rừng" (Wickens, 1991). LSNG là tất cả các vật liệu sinh học ngoài gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ cho mục đích của con người.
Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (W. c 7 "nhiều loại cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây cho đặc sản. Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một số loại cây cho thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn cho gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công chế biến như cây cho nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu." (Lê Mộng Chân, 1993) Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về LSNG. de Beer (1992) “LSNG được hiểu là toàn bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người khai thác và sử dụng”.
Năm 1994, trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á- Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về LSNG như sau: "LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than. LSNG được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các LSNG". Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lương thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm về LSNG như sau: "LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ".
Sau nhiều năm nghiên cứu về LSNG Jenne. de Beer (2000) đã bổ sung khái niệm LSNG. Theo ông " LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi".
Theo khái niệm này của Jenne. de Beer là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm LSNG [21]. Tóm lại, LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, không kể gỗ, cũng như những dịch vụ từ rừng mà người dân có thể sử dụng được, hay đem các sản phẩm từ rừng ra để trao đổi hàng hóa mua bán mang lại thu nhập kinh tế cho người dân. c 8 Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, sợi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v.
do có khối lượng nhỏ lại ít được khai thác, nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng. Người ta gọi chúng là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products). Trong những thập kỷ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh, gỗ trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác. Trong khi đó các "Lâm sản phụ" được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn.
Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy nếu được quản lý tốt thì nguồn lợi từ “Lâm sản phụ” hoàn toàn không nhỏ, đôi khi còn lớn hơn cả gỗ. Vì vậy, để khẳng định vai trò của các "Lâm sản phụ" người ta đã sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là "LSNG" ("Non- timber forest products" hay "Non-wood forest products"). *Quản lý rừng bền vững Khái niệm phát triển bền vững được đưa ra năm 1980 ấn phẩm “Chiến lược Bảo tồn Thế giới”với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" nhưng cũng đủ để mọi người nhận thức rõ ràng thế nào là phát triển bền vững. Từ đó các khái niệm về quản lý rừng bền vững lần lượt ra đời.
Hội nghị Helsinki (1994) đã tuyên bố khái niệm về quản lý rừng vững của ITTO năm 1990: “ Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định nhằm đạt được mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng để các giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội”(ITTO, 1990). “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, quốc gia, toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác” ( Helsinki, 1994)[10]. c 9 Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Phát triển bền vững không chỉ là sự phát triển trên các mặt kinh tế xã hội (KTXH) mà còn phải đặc biệt chú trọng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Trong đó tài nguyên rừng - nguồn tài nguyên có tác động to lớn với đời sống con người - cần được áp dụng các giải pháp để quản lý tốt nhằm cung cấp ổn định và lâu dài các lợi ích cho con người[10]. Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”.