MỞ ĐẦU Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, với sự hình thành, phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng,. làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đi kèm với đó là nỗi lo về môi trường, đặc biệt vấn đề chất thải rắn như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại,.Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.
Cao Lộc là một huyện miền núi biên giới phía Bắc có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng của tỉnh Lạng Sơn và cả nước. Là một địa danh có lịch sử lâu đời, nằm ở cửa ngõ thông thương giữa đất nước ta và Trung Quốc, Cao Lộc sớm trở thành nơi giao lưu kinh tế, thương mại và hoạt động đối ngoại của tỉnh Lạng Sơn. Trong những năm gần đây huyện Cao Lộc đang có nhiều bước chuyển mình trong nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, còn nhiều bất cập về cơ sở hạ tầng và kinh tế kỹ thuật còn yếu, sự phát triển không đồng đều trên địa bàn huyện, tỷ lệ gia tăng dân số cao ở vùng trung tâm, dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề môi trường và xã hội.
Sự phát triển không đồng bộ giữa tốc độ đô thị hóa và việc nâng cấp cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ công cộng, du lịch, thương mại…đã phát sinh lượng lớn rác c 2 thải từ khu vực dân cư, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường và làm thay đổi cảnh quan của huyện cũng như gây tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư đang sinh sống trên địa bàn huyện. Đặc biệt việc xả thải các chất thải rắn, chất thải độc hại vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường đã dẫn đến ô nhiễm môi trường. Chất thải rắn sinh hoạt là một phần của cuộc sống, phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người. Mức sống của người dân ngày càng cao thì việc tiêu dùng các sản phẩm của xã hội càng cao, điều đó đồng nghĩa với việc gia tăng chất thải rắn sinh hoạt.
Mặt khác, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cho đến nay mới chỉ đạt 60-80%, phần còn lại được thải tự do vào môi trường. Ở nhiều nơi trên đất nước ta chất thải sinh hoạt là nguyên nhân chính phá vỡ cân bằng sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, gây bệnh cho con người, cây trồng và vật nuôi làm mất đi cảnh quan văn hoá đô thị và nông thôn. Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại hầu hết các thành phố, thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh và bảo vệ môi trường (BVMT). Không có những bước đi thích hợp, những quyết sách đúng đắn và những giải pháp đồng bộ, khoa học để quản lý chất thải rắn trong quy hoạch, xây dựng và quản lý rác thải sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, kéo theo những mối nguy hại về sức khoẻ cộng đồng, hạn chế sự phát triển của xã hội.
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, công tác quản lý của đơn vị thành phố thuận lợi hơn về nguồn nhân lực, kinh phí, mạng lưới giao thông, trình độ dân trí, mạng lưới thu gom so với các đơn vị cấp huyện, trung bình một ngày trên địa bàn thành phố Lạng Sơn phát sinh khoảng 95 tấn rác, lượng rác thu gom được khoảng 89 tấn/ngày. Đối với công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn huyện Cao Lộc, cơ chế quản lý và các chính sách hỗ trợ cho công tác quản lý c 3 chất thải rắn sinh hoạt còn thiếu, chưa chú trọng đến các giải pháp công nghệ xử lý chất thải sinh hoạt thu gom phù hợp với trình độ và điều kiện kinh tế của huyện, chủ yếu mới tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải ở các khu đông dân cư và đổ lộ thiên. Chưa phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Trên cơ sở đó, để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Cao Lộc, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển bền vững, một trong các nhiệm vụ trọng tâm là quản lý hiệu quả chất thải, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn.
Nhằm giúp các nhà quản lý môi trường trên địa bàn huyện có cái nhìn khách quan và tổng thể về hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của huyện tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Cao lộc, tỉnh Lạng Sơn”. Đề tài sẽ là một trong những cơ sở để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt, hướng tới xây dựng huyện Xanh - Sạch - Đẹp - Bền vững. c 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt: Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của chính phủ về quản lý chất thải rắn [2]: Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.
Nguồn gốc phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt: Cùng với những hoạt động sản xuất của con người và sự phát triển của các ngành đã tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người ngày càng tăng lên, cùng với đó là lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) của các hoạt động này cũng gia tăng. CTRSH được thải ra từ mọi hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng trong đời sống xã hội, trong đó lượng rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu ở khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải , giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v. Khái niệm hoạt động quản lý CTRSH: Hoạt động quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
Một số khái niệm liên quan: Thu gom CTRSH là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Vận chuyển CTRSH là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát c 5 sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Địa điểm, cơ sở được cấp có thẩm quyền chấp thuận là nơi lưu giữ, xử lý, chôn lấp các loại CTRSH được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Xử lý CTRSH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong CTRSH; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong CTRSH.
Chôn lấp CTRSH hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp CTRSH hợp vệ sinh. Hệ thống quản lý CTRSH Hiện nay hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Việt Nam mỗi một cơ quan, ban nghành sẽ nắm giữ những trách nhiệm riêng trong hệ thống quản lý CTR, trong đó: Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược bảo vệ môi trường chung cho cả nước, tham mưu cho nhà nước trong việc đề xuất luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia. Bộ xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải. UBND các tỉnh chỉ đạo UBND các thành phố, huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Xây dựng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung và luật pháp về bảo vệ môi trường của nhà nước.
Công ty môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xử lý CTR, bảo vệ vệ sinh môi trường theo chức trách được chủ đầu tư trực tiếp ký hợp đồng. Các công cụ quản lý môi trường và CTRSH Công cụ quản lý môi trường và CTRSH là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo c 6 bản chất thành các loại cơ bản sau: - Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. - Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, giám sát môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải.
Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.