Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Phân loài, tên gọi, đă ̣c điểm hình thái, sinh thái và phân bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp 1. Phân loại và tên gọi Dẻ tùng sọc trắng hẹp được mô tả vào năm 1916 là một trong số 5 loài thuộc chi Amentotaxus bao gồm: Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilger, Amentotaxus argotaenia var.
argotaenia, Amentotaxus argotaenia var. Zhang, Amentotaxus formosana H. Li, Amentotaxus yunnanensis H. Li) của Họ Thông đỏ (Taxaceace) hay còn được gọi là họ Thanh Tùng [26],[27],[28].
Ở Trung Quốc, Dẻ tùng sọc trắng hẹp được gọi tên là Sui hua shan hay Sui hua shu shan [27], ở Việt Nam gọi là Dẻ tùng sọc trắng hẹp, Sam bông hay Sam bông sọc trắng hẹp, tên tiếng Anh là Catkin Yew [18]. Hình thái, sinh thái và phân bố Loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại Trung Quốc được mô tả như sau: - Về hình thái: Amentotaxus Argotaenia (Hance) Pilger là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 7 m, tán thưa với cành hướng lên cao. Lá hình dải hay hình mác đôi khi hơi cong hình lưỡi liềm tạo thành một góc với thân gần như mọc đối, đầu lá nhọn, kích thước lá rộng 4,5-8cm x dài 8-15 cm, cuống lá dài 3mm. mặt trên lá màu xanh thẫm, mặt dưới có các sọc trắng và 2 dải lỗ khí phân biệt nằm giữa các dải xanh ở mép và ở hai bên dải xanh dọc gân giữa.
Dải lỗ khí rộng tới 1,5 lần dải xanh ở mép. Mép lá dẹt và hơi cuốn lại, đỉnh lá nhọn. Là cây thường xanh quanh năm, chồi ngọn vuông hình chữ nhật, vỏ cây có vàng lục ở tuổi 1, chuyển sang màu vàng đỏ thứ 2 và năm thứ 3 [27]. c 4 Là cây đơn tính cùng gốc, nón cái mọc từ các nách lá của các chồi ngắn.
Áo hạt khi chín có màu đỏ dài, hạt hình bầu dục trứng ngược rủ xuống với kích thước 1,9-2,6 x 1-1,3 cm, cuống dài 1,1-1,4 cm. Nón thụ phấn vào tháng 4 và chiń vào tháng 10 trong năm, 2n = 24 [27]. - Sinh thái: + Thường mọc ở vùng núi đá vôi, rừng, khe núi, bờ suối mát mẻ và ẩm ướt; ở độ cao 300-1100 m so với mực nước biển [27]. + Amentotaxus argotaenia phổ biến ở dạng cây gỗ nhỡ mọc trên núi đá vôi cũng như sa thạch, đá phiến hoặc đá granite, và trong khe núi, trên sườn dốc hoặc vách đá, trên đỉnh và các rặng núi và trong rừng núi dọc theo bờ suối râm mát ở độ cao là giữa 600 m và 1.100 m so với mực nước biển mực nước biển.
Trên núi đá vôi, nó có thể xuất hiện cùng với Pinus kwangtungensis, Nageia spp. macrophyllus và Taxus chinensis. Trên các loại đá có tính axit nó gắn liền với Amentotaxus yunnanensis, Cephalotaxus spp. và cây lá rộng và cây bụi (thực vật hạt kín) như Magnolia, Quercus, và Rhododendron trong núi hay rừng nửa rụng lá [32].
- Phân bố: Ở Trung Quốc có phân bố ở các tỉnh Phúc Kiến, Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Tứ Xuyên, Đài Loan, Chiết Giang và có phân bố ở Việt Nam [27], [32]. - Giá trị sử dụng: Gỗ được sử dụng để làm công cụ, đồ nội thất. Ở Trung Quốc nó được sử dụng để làm cây cảnh Bonsai. Các hạt giống có hàm lượng dầu cao, điều tra gần đây đã được thực hiện để phân tích tiềm năng của nó đối với các thuốc chống ung thư tương tự như những loài cây được tìm thấy trong Taxus [29], [32].
- Tình trạng: Ở Trung Quốc, Dẻ tùng sọc trắng hẹp được nhâ ̣n định đây là một loài dễ bị đe dọa và tác động mạnh [27]. Ngoài ra, tại khu phân bố của c 5 loài trên thế giới thì Dẻ tùng sọc trắng hẹp có nguy cơ tuyệt chủng do môi trường sống của nó đang bị suy thoái hoặc thậm chí loại bỏ để nhường chỗ cho canh tác nông nghiệp đã làm cho tốc độ sinh trưởng của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp chậm lại, tái sinh không thường xuyên, phát tán hạt giống kém [28]. Averyanov, Tien Hiep Nguyen, Khang Nguyen Sinh, The Van Pham, Vichith Lamxay, Somchanh Bounphanmy, Shengvilai Lorphengsy, Loc Ke Phan, Soulivanh Lanorsavanhand Khamfa Chantthavongsa (2014), kết quả nghiên cứu về thực vật hạt trần của Lào cũng chỉ ra rằng loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp này cũng có phân bố ở Lào tại các tỉnh Hủa Phăn, Khammouan, dãy núi Kasy huyện Vang Viêng ở thủ đô Viêng Chăn [29]. Với các đặc điểm về hình thái cây cao 20m, với đường kính 0,5m, mặt sau lá cũng có các dải lỗ khí dài 5-10cm, rộng 0,8-1,2cm.
Cây ra nón vào tháng 4 và quả chính vào tháng 2-3 năm sau [27]. Sinh thái học: Là cây thường xanh mọc trong các khu rừng ẩm trên núi ở độ cao 1000-1700 m So với mực nước biển, trên đất silicat và đá vôi, đá sa thạch, đá phiến sét andgranite. Cây mọc phân tán và ít khi chiếm ưu thế của rừng. Cây con là cây ưa bóng.
Thường hay xuất hiện cùng với các loài như Cephalotaxus mannii, Dacrycarpus imbricatus, Keteleeria eveliniana, Podocarpus neriifolius, Thông tre lá ngắn và Taxus wallichiaa [27]. Giá trị sử dụng: Thường dùng để đóng đồ gỗ thủ công, làm cây cảnh bon sai [9]. Xiaodong Li, Li Jianqiang (1990), Nghiên cứu chiến lược bảo tồn của tám loài thực vật hạt trần bị đe dọa ở Trung Quốc cho thấy rằng loài Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilger được xếp vào 1 trong 8 loài dễ bị tổn thương [32]. c 6 Phân bố: Amentotaxus argotaenia là phân phối rộng nhưng rải rác ở phía Nam của sông Dương Tử ở Trung Quốc.
Thường mọc ở độ cao: 400- 2200m. Do Argotaenia Amentotaxus là cây đơn tính khác gốc. Số lượng cây trong tự nhiên có giảm mạnh do mất môi trường sống và phân mảnh, hạt giống có quá trình ngủ giống dài và tái sinh thấp. Các biện pháp để bảo tồn là thành lập một số khu bảo tồn ở các vùng phân bố tự nhiên của loài.
Đây là hình thức bảo tồn nguyên vị giúp bảo vệ môi trường sống tự nhiên của loài. Tuy nhiên, cũng cần phải mở rộng nghiên cứu các biện pháp nhân giống phù hợp như nuôi cấy mô,… để nhân giống nhanh góp phần bảo tồn loài trên diện rộng [27]. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richard P. Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.N đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên [1]. Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học [31]. Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ.
Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933 - 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp the hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều. Phương pháp biểu đồ trắc diện do David và Richards (1933 - 1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng.W (1968) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái.
Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ. Rừng mưa thường có nhiều tầng (thông thường nhất là có ba tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài cây thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh bám trên thân cây, cành cây,. "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"[13].
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi. c 8 Sampion Gripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng. Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi [31]. Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12m, 12 - 18m, 18 - 24m, 24 - 30m, 30 - 36m và 36 - 42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần.