Nghiên cứu đa dạng nấm rễ nội cộng sinh (AM) trong đất trồng ngô

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu đa dạng nấm rễ nội cộng sinh Arbuscular Mycorrhiza (AM) trong đất trồng ngô. Phân tích thành phần loài và vai trò của nấm AM.

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2018

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN

1.1. Nấm rễ nội cộng sinh

1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.3. Phƣơng pháp phân loại nấm rễ nội cộng sinh

1.3.1. Phân lập bào tử nấm rễ nội cộng sinh

1.4. Vai trò của nấm rễ nội cộng sinh đối với thực vật

1.4.1. Khả năng huy động nước và các chất dinh dưỡng

1.4.2. Thu nhận hợp chất cacbon trong cây cộng sinh Mycorrhiza

1.4.3. Tăng sức chống chịu của cây trồng trong điều kiện bất lợi của môi trường

1.4.4. Giúp cây chống chịu với bệnh hại

1.4.5. Hấp thu lân

1.5. Tình hình nghiên cứu AMF trên thế giới

1.6. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.7. Đặc điểm tự nhiên của địa điểm nghiên cứu

1.7.1. Đặc điểm tự nhiên của Duy Tiên – Hà Nam

1.7.2. Đặc điểm tự nhiên của Thường Tín - Hà Nội

2. CHƢƠNG 2 - NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Vật liệu và trang thiết bị

2.3.1. Nguyên vật liệu

2.4. Phƣơng pháp

2.4.1. Lấy mẫu đất

2.4.2. Phân lập AMF

2.4.3. Tiệt trùng các bào tử AMF

2.4.4. Phân loại nấm rễ nội cộng sinh

3. CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Phân lập AMF từ mẫu đất thu thập

3.2. Phân loại AMF bằng phƣơng pháp hình thái học

3.3. Đánh giá đa dạng thành phần loài của AMF trong các vùng sinh thái nghiên cứu và mối tƣơng quan giữa điều kiện môi trƣờng sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô

3.3.1. Dựa vào thành phần loài

3.3.2. Dựa vào tần suất xuất hiện

3.3.3. Dựa vào mật độ loài

3.3.4. Lựa chọn một số AMF có độ đa dạng cao để phân loại chúng bằng kỹ thuật sinh học phân tử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Nghiên Cứu Nấm Rễ AM Trên Ngô

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu đa dạng thành phần loài của nấm rễ nội cộng sinh Arbuscular mycorrhiza (AM) trong đất trồng ngô. Nấm AM đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái đất và sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là khả năng cải thiện hấp thụ dinh dưỡng và tăng cường khả năng chống chịu của cây. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân lập, định danh các loài nấm AM có mặt trong đất trồng ngô ở một số khu vực, từ đó đánh giá đa dạng sinh học nấm và tiềm năng ứng dụng của chúng trong nông nghiệp. Luận văn xem xét ảnh hưởng của nấm AM đến cây ngô, mật độ nấm AM trong đất và các yếu tố môi trường. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích cho việc phát triển các biện pháp quản lý đất bền vững và nâng cao năng suất ngô thông qua việc khai thác lợi ích từ nấm rễ nội cộng sinh.

1.1. Vai trò quan trọng của Nấm rễ nội cộng sinh AM

Nấm rễ nội cộng sinh (AM) tạo thành mối quan hệ cộng sinh có lợi với rễ của hầu hết các loài thực vật trên cạn, bao gồm cả cây ngô. Mối quan hệ này giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng, đặc biệt là phốt pho, từ đất hiệu quả hơn. Nấm AM mở rộng hệ rễ của cây, tiếp cận đến các vùng đất mà rễ cây không thể vươn tới, tăng khả năng hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng khác. Ngoài ra, nấm rễ nội cộng sinh còn giúp cây trồng tăng cường khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường như hạn hán, mặn và bệnh tật. Theo 'ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN', 'sự cộng sinh của nấm đã đƣợc chứng minh là giúp cho cây trồng có khả năng chống chịu đƣợc sự khô hạn hay đề kháng với một số tác nhân gây bệnh'.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu Nấm AM trong đất trồng ngô

Cây ngô là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới và ở Việt Nam. Việc hiểu rõ về thành phần loài nấm AM trong đất trồng ngô và vai trò của chúng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô là rất quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng ngô. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về đa dạng nấm AM trong đất, phân loại nấm AM và giúp xác định các loài nấm AM bản địa có tiềm năng sử dụng trong sản xuất ngô bền vững. Theo 'ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN', 'Việc nghiên cứ sự có mặt của AMF trong đất trồng ngô sẽ góp phần làm rõ hơn về sự đa dạng của nhóm nấm này trên cây ngô. Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu có thể lựa chọn đƣợc những loài ƣu thế, tìm hiểu đƣợc vai trò và có những đặc tính của AMF trong việc ứng dụng nâng cao năng suất cây trồng'.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Đánh Giá Đa Dạng Nấm AM Trong Đất

Một trong những thách thức chính trong nông nghiệp hiện nay là làm thế nào để tăng năng suất cây trồng một cách bền vững, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có thể mang lại hiệu quả nhanh chóng, nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề như ô nhiễm đất, nước và suy giảm đa dạng sinh học. Nghiên cứu về nấm rễ nội cộng sinh giúp tìm ra giải pháp sử dụng các vi sinh vật có lợi để cải thiện sức khỏe đất và tăng cường khả năng sinh trưởng của cây trồng một cách tự nhiên. Nghiên cứu này đặt ra câu hỏi về đa dạng thành phần loài nấm AM hiện diện trong đất trồng ngô, cách thức chúng tương tác với cây ngô và tiềm năng ứng dụng của chúng trong việc giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học.

2.1. Tác động của canh tác nông nghiệp đến Nấm rễ nội cộng sinh

Các biện pháp canh tác nông nghiệp như cày xới, bón phân hóa học và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng và mật độ của nấm rễ nội cộng sinh trong đất. Cày xới có thể phá vỡ mạng lưới sợi nấm, làm giảm khả năng cộng sinh của nấm với rễ cây. Bón phân hóa học, đặc biệt là phân lân, có thể làm giảm sự phụ thuộc của cây vào nấm AM để hấp thụ phốt pho, từ đó làm giảm sự phát triển của nấm. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là thuốc trừ nấm, có thể trực tiếp tiêu diệt nấm AM hoặc ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng.

2.2. Sự cần thiết của đánh giá đa dạng sinh học Nấm AM

Việc đánh giá đa dạng sinh học nấm AM trong đất trồng ngô là rất quan trọng để hiểu rõ về thành phần loài nấm hiện diện, sự phân bố của chúng và vai trò của chúng trong hệ sinh thái đất. Thông tin này có thể được sử dụng để phát triển các biện pháp quản lý đất bền vững, bảo tồn và khuyến khích sự phát triển của các loài nấm AM có lợi, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng ngô.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Lập Định Danh Nấm AM

Luận văn sử dụng các phương pháp phân lập và định danh nấm AM tiên tiến để xác định các loài nấm có mặt trong đất trồng ngô. Quá trình nghiên cứu bao gồm thu thập mẫu đất từ các vùng trồng ngô khác nhau, phân lập bào tử nấm AM bằng phương pháp sàng lọc ướt và ly tâm, định danh nấm AM dựa trên đặc điểm hình thái và cấu trúc bào tử, và xác nhận kết quả bằng phương pháp sinh học phân tử sử dụng trình tự gen. Các phương pháp phân tích thống kê được sử dụng để đánh giá đa dạng sinh học nấm và xác định mối quan hệ giữa thành phần loài nấm AM và các yếu tố môi trường.

3.1. Kỹ thuật Phân lập bào tử Nấm rễ nội cộng sinh hiệu quả

Phân lập bào tử nấm AM là bước quan trọng để nghiên cứu thành phần loài nấm trong đất. Phương pháp sàng lọc ướt kết hợp với ly tâm trong dung dịch đường được sử dụng rộng rãi để tách bào tử nấm từ đất. Sau khi phân lập, bào tử nấm được làm sạch và quan sát dưới kính hiển vi để xác định đặc điểm hình thái. Theo 'ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN', 'Để phân lập AMF, trƣớc hết cần tách bào tử từ đất bằng phƣơng pháp sàng ƣớt và lọc. Phƣơng pháp này đƣợc Gerdemann, 1963 đã cải biên cho phù hợp với nấm nội cộng sinh'.

3.2. Ứng dụng Kỹ thuật Sinh học phân tử để định danh Nấm AM

Kỹ thuật sinh học phân tử, đặc biệt là phân tích trình tự gen, cung cấp phương pháp chính xác để định danh nấm AM và xác định mối quan hệ phát sinh loài giữa chúng. Đoạn gen 18S rRNA thường được sử dụng để phân loại nấm AM do tính bảo tồn cao và khả năng phân biệt giữa các loài khác nhau. Trình tự gen được so sánh với các trình tự đã biết trong các cơ sở dữ liệu gen để xác định loài nấm. Theo 'ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN', 'trong một số ít nghiên cứu đoạn 18S, 28S đoạn D1D2 và ITS đƣợc sử dụng để phân loại AMF, trong đó trình tự 18S vẫn là trình tự đƣợc dùng phổ biến cho nhóm nấm này'.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đa Dạng Loài Nấm AM Trong Đất Ngô

Nghiên cứu đã xác định được một số lượng đáng kể các loài nấm AM khác nhau trong đất trồng ngô, thuộc các chi Glomus, Acaulospora, Gigaspora và Scutellospora. Các loài nấm này có sự phân bố khác nhau giữa các vùng trồng ngô khác nhau, có thể do sự khác biệt về loại đất, điều kiện khí hậu và phương pháp canh tác. Một số loài nấm AM được xác định là có khả năng cộng sinh cao với cây ngô và có tiềm năng sử dụng trong sản xuất ngô bền vững. Theo 'ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN', 'Việc phân loại các loài AMF dựa vào đặc điểm hình thái của các bào tử AMF thu đƣợc theo các mô tả đặc trƣng.'

4.1. So sánh đa dạng Nấm AM giữa các vùng trồng ngô

Sự so sánh đa dạng nấm AM giữa các vùng trồng ngô khác nhau cho thấy có sự khác biệt đáng kể về thành phần loàimật độ nấm. Các vùng có điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của nấm thường có đa dạng nấm AM cao hơn. Các phương pháp canh tác bền vững, như luân canh cây trồng và sử dụng phân hữu cơ, cũng có thể góp phần làm tăng đa dạng nấm AM trong đất.

4.2. Nhận diện Nấm AM có khả năng cộng sinh cao với Ngô

Nghiên cứu đã xác định được một số loài nấm AM có khả năng cộng sinh cao với cây ngô, thể hiện qua khả năng xâm nhập và phát triển mạnh mẽ trong rễ cây, tăng cường khả năng hấp thụ dinh dưỡng và tăng cường khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi. Các loài nấm AM này có tiềm năng sử dụng trong sản xuất ngô bền vững, giúp giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nấm AM Cho Năng Suất Ngô Bền Vững

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để phát triển các chế phẩm nấm AM bản địa có hiệu quả cao, giúp cải thiện sức khỏe đất và tăng năng suất ngô một cách bền vững. Việc sử dụng nấm AM có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào phân bón hóa học, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm ngô. Các biện pháp quản lý đất bền vững, như luân canh cây trồng và sử dụng phân hữu cơ, cũng có thể góp phần khuyến khích sự phát triển của nấm AM trong đất.

5.1. Phát triển chế phẩm Nấm AM bản địa cho cây ngô

Việc phát triển các chế phẩm nấm AM bản địa có hiệu quả cao là rất quan trọng để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất. Các chế phẩm nấm AM nên được sản xuất từ các loài nấm có khả năng cộng sinh cao với cây ngô và có khả năng thích nghi với điều kiện địa phương. Chế phẩm nấm AM có thể được sử dụng để xử lý hạt giống, bón vào đất hoặc phun lên lá cây.

5.2. Quản lý đất bền vững để khuyến khích phát triển Nấm AM

Các biện pháp quản lý đất bền vững có thể góp phần khuyến khích sự phát triển của nấm AM trong đất. Luân canh cây trồng giúp tăng đa dạng sinh học đất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài nấm AM khác nhau. Sử dụng phân hữu cơ cung cấp nguồn dinh dưỡng cho nấm AM và cải thiện cấu trúc đất. Giảm thiểu cày xới giúp bảo tồn mạng lưới sợi nấm trong đất.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tiềm Năng Nấm AM Tương Lai

Luận văn đã cung cấp thông tin chi tiết về đa dạng thành phần loài nấm AM trong đất trồng ngô và tiềm năng ứng dụng của chúng trong sản xuất ngô bền vững. Nghiên cứu này mở ra hướng nghiên cứu mới về vai trò của nấm AM trong hệ sinh thái đất và tiềm năng sử dụng chúng để cải thiện sức khỏe đất và tăng năng suất cây trồng. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc xác định các loài nấm AM có khả năng thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau, đánh giá hiệu quả của các chế phẩm nấm AM trong điều kiện thực địa và phát triển các biện pháp quản lý đất bền vững để khuyến khích sự phát triển của nấm AM trong đất.

6.1. Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế cộng sinh giữa Nấm AM và cây ngô

Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế cộng sinh giữa nấm AM và cây ngô là rất quan trọng để hiểu rõ về cách thức nấm AM cải thiện khả năng hấp thụ dinh dưỡng và tăng cường khả năng chống chịu của cây. Nghiên cứu này có thể tập trung vào việc xác định các gen và protein liên quan đến quá trình cộng sinh, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến quá trình cộng sinh và phát triển các phương pháp để tăng cường hiệu quả cộng sinh giữa nấm AM và cây ngô.

6.2. Đánh giá tác động của Nấm AM đến chất lượng và an toàn ngô

Nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc đánh giá tác động của nấm AM đến chất lượng và an toàn của sản phẩm ngô. Việc sử dụng nấm AM có thể giúp tăng hàm lượng dinh dưỡng trong ngô, giảm sự tích lũy các chất độc hại và cải thiện hương vị và màu sắc của sản phẩm. Đánh giá này có thể giúp người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm ngô an toàn và dinh dưỡng hơn.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nấm rễ nội cộng sinh (AMF - Arbuscular Mycorrhizal Fungi) là một nhóm nấm có lợi trong đất và sống cộng sinh trong rễ của thực vật bậc cao. Đây là quần hợp nấm - thực vật đƣợc biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng nhƣ hệ sinh thái. AMF đƣợc phát hiện từ ít nhất 400 triệu năm trƣớc, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển, sinh sản của cả thực vật và nấm. Đây đƣợc xem là nhóm vi sinh vật chủ yếu tồn tại ở rễ và đất của cây trồng, đƣợc tìm thấy trong hầu hết các sinh cảnh trên toàn thế giới và trong khoảng 90% các loài thực vật [74].

Mặc dù là nội cộng sinh bắt buộc nhƣng mối quan hệ giữa nấm và thực vật đƣợc đƣợc coi là mối quan hệ “Hội sinh”, do nó mang lại lợi ích cho cả vật chủ và nấm. Trƣớc hết, nấm nhận đƣợc các sản phẩm quang hợp từ thực vật bằng cách sống cố định trong rễ của chúng và sau đó phát triển mạng lƣới hệ sợi nấm trong vùng bầu rễ để tạo thuận lợi cho việc hấp thụ các chất dinh dƣỡng và cung cấp các chất có lợi khác cho vật chủ, cạnh tranh với các vi khuẩn trong đất khác, đồng thời giúp thực vật tăng khả năng lấy nƣớc và chất dinh dƣỡng nhƣ phốt pho, lƣu huỳnh, nitơ và các vi chất dinh dƣỡng từ các sợi nấm tạo ra ngoài vùng rễ. Ngoài ra, sự cộng sinh của nấm đã đƣợc chứng minh là giúp cho cây trồng có khả năng chống chịu đƣợc sự khô hạn hay đề kháng với một số tác nhân gây bệnh [55,57]. Cây ngô là nhóm cây chủ lực của Việt Nam, đứng thứ hai sau cây lúa.

Tuy nhiên, sự đa dạng nấm AMF trong đất trồng ngô ở Việt Nam cũng nhƣ mối tƣơng quan giữa điều kiện môi trƣờng sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Việc nghiên cứ sự có mặt của AMF trong đất trồng ngô sẽ góp phần làm rõ hơn về sự đa dạng của nhóm nấm này trên cây ngô. Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu có thể lựa chọn đƣợc những loài ƣu thế, tìm hiểu đƣợc vai trò và có những đặc tính của AMF trong việc ứng dụng nâng cao năng suất cây trồng. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xuất phát từ những lý do nếu trên, đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhiza) trong đất trồng ngô” đƣợc tiến hành với các mục tiêu nghiên cứu sau: 1.

Phân lập, phân loại các chủng nấm rễ nội cộng sinh từ đất trồng ngô tại Hà Nội và Hà Nam. Đánh giá đa dạng thành phần loài của AMF trong các vùng sinh thái nghiên cứu và mối tƣơng quan giữa điều kiện môi trƣờng sống tới sự đa dạng thành phần loài của các chủng nấm rễ nội cộng sinh trên đất trồng ngô. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Nấm rễ nội cộng sinh Nấm rễ (Mycorrhizal) là một hình thức sinh trƣởng cộng sinh giữa thực vật và nấm. Đây là quần hợp nấm - thực vật đƣợc biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng nhƣ nhiều hệ sinh thái, với hơn 90% các loài thực vật có quan hệ với nấm theo hình thức nấm rễ và phụ thuộc vào mối quan hệ này để tồn tại [67].

Có hai loại nấm rễ: nấm rễ nội sinh và nấm rễ ngoại sinh [63]. Nấm rễ nội cộng sinh (Arbuscular Mycorrhizal Fungi, AMF) là nhóm cộng sinh bắt buộc với thực vật và thuộc ngành Glomeromycota. Nấm rễ ngoại cộng sinh (Ectomycorrhizal) là sợi nấm bao quanh rễ dinh dƣỡng chƣa hóa gỗ, không xuyên qua mô tế bào mà chỉ kéo dài giữa các vách tế bào. Để phát triển, đầu tiên bào tử nấm thâm nhập qua tế bào vỏ của rễ cây, sau đó màng sinh chất của tế bào chủ bao quanh sợi nấm, tạo ra những vòng xoắn của sợi nấm ở bên trong tế bào.

Nấm rễ cộng sinh vào rễ thực vật, hình thành hệ sợi, mở rộng thành mạng lƣới vào đất xung quanh rễ và hình thành một mối liên kế cơ bản và quan trọng giữa thực vật và môi trƣờng xung quanh nó. Sự nội cộng sinh nấm và rễ cây thực chất là hình thức hỗ sinh. Cả hai bên sử dụng chất dinh dƣỡng trong mối quan hệ tƣơng hỗ, nấm rễ giúp thực vật lấy dinh dƣỡng nhƣ photpho, sulfur, nitrogen và các vi lƣợng từ đất. Sự cộng sinh của nấm làm cải thiện khả năng hấp thụ và tuổi đời rễ, tăng cƣờng hấp thu các dinh dƣỡng đặc biệt là phốt phát và giảm khả năng nhiễm bệnh của cây [55,57].

Các nấm này đồng thời cũng giảm những ảnh hƣởng gây ra bởi các vi sinh vật nhiễm vào rễ, đất mặn, hay bởi nƣớc tù [46].2 Lịch sử nghiên cứu Thuật ngữ “Mycorrhiza” lần đầu tiên đƣợc Frank - nhà bệnh cây lâm nghiệp ngƣời Đức đƣa ra vào năm 1885 để chỉ mối quan hệ đặc biệt giữa rễ cây và nấm ngoại cộng sinh. Thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Hy Lạp: Mykes (nấm) và Rhiza (rễ). Năm 1887, Frank đã chỉ ra sự khác biệt giữa nấm ngoại cộng sinh và nấm nội 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng sinh, thực chất là sự khác biệt giữa Ericaceous và Orchid, từng đƣợc gọi là “Phycomycetous Endomycorrihiza” để phân biệt với dạng cộng sinh của nấm bậc cao với các loài trong họ Ericaceae và Orchidaceae. Những nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc đã dẫn đến sự thay đổi tên gọi của hình thức cộng sinh này.

Năm 1897, tác giả Janse đã gọi cấu trúc dạng bọng bên trong tế bào rễ của thực vật bị nhiễm nấm Mycorrhiza là “Vesicules” (gọi là thể V). Năm 1905, Gallaud gọi những cấu trúc dạng bụi (chùm) trong tế bào thƣờng đƣợc quan sát thấy là “Arbuscular” (gọi là thể A). Do vậy, tên gọi “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza” (viết tắt là VAM) đƣợc hình thành và tồn tại cho đến thời gian gần đây. Bên cạnh đó, một số bài báo và công trình khoa học khác còn sử dụng tên gọi “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza Fungi” để chỉ loại hình cộng sinh này [26].

Những nghiên cứu sau này cho thấy, thể A là đặc điểm chung nhất của các chi nấm AMF, còn sự hình thành thể V không thấy có mặt ở tất cả nấm nội cộng sinh. Do vậy, loại hình cộng sinh này còn có tên gọi là “Arbuscular Mycorrhiza” tuy nhiên tên này vẫn chƣa hoàn toàn thống nhất. Năm 2005, Hội nghị Quốc tế về Mycorrhiza lần thứ 17 đƣợc tổ chức tại Bồ Đào Nha đã quyết định lấy tên “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (AMF) để chỉ loại hình cộng sinh này. Do vậy, trong các tài liệu đƣợc công bố sau này, thuật ngữ “Arbuscular Mycorrhiza Fungi” (viết tắt là AMF) đã đƣợc thống nhất sử dụng thay cho thuật ngữ “Vesicular - Arbuscular Mycorrhiza” bắt đầu từ năm 2008 [30].3 Phƣơng pháp phân loại nấm rễ nội cộng sinh 1.1 Phân lập bào tử nấm rễ nội cộng sinh Nấm rễ nội cộng sinh có đặc điểm không thể nuôi cấy đƣợc trên các môi trƣờng nuôi cấy thông thƣờng mà chỉ có thể sinh trƣởng phát triển trong rễ cây nên việc phân lập nấm rễ nội cộng sinh phải gián tiếp dựa vào sự có mặt của các bào tử trong đất xung quanh rễ thực vật.

Hay nói các khác, việc phân lập nấm rễ nội cộng sinh đƣợc thực hiện thông qua việc phân lập các bào tử của loài nấm này. Bào tử AMF phân bố rộng rãi trong lòng đất, từ bề mặt phía trên đến độ sâu 2,2m. Tuy nhiên, 70-85% các bào tử là đƣợc tìm thấy ở lớp đất bề mặt 3-10 cm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Do vậy, để phân lập AMF, lấy các mẫu đất đã đƣợc loại bỏ lớp bên ngoài (3 cm ở phía trên) để đảm bảo mật độ, cấu trúc quần thể nấm AMF không bị ảnh hƣởng của các yếu tố (ánh sáng, nhiệt độ,…).

Để phân lập AMF, trƣớc hết cần tách bào tử từ đất bằng phƣơng pháp sàng ƣớt và lọc. Phƣơng pháp này đƣợc Gerdemann, 1963 đã cải biên cho phù hợp với nấm nội cộng sinh [38]. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả Daniel và Skipper, 1982 và tiếp sau đó tác giả Tommerup, 1992 đã cải tiến thành phƣơng pháp sàng ƣớt (wet sieving) kết hợp với ly tâm trong thang nồng độ của sucrose (dịch 50%) [28,70]. Phƣơng pháp tích cực và hiệu quả nhất thƣờng đƣợc sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Brundrett, 1996 là dùng sàng lọc với các kích cỡ màng khác nhau: 250µm, 100µm và 45µm đƣờng kính lỗ sàng kết hợp với ly tâm ở các nồng độ đƣờng khác nhau [28].

Bào tử AMF sau khi phân lập đƣợc phân loại dựa vào hình thái, kích thƣớc theo khóa phân loại của Monton, 1988; Schenck và Pertez, 1990 [51,62].1 Phân loại dựa trên đặc điểm hình thái học Lịch sử hình thành hệ thống phân loại này trƣớc hết phải kể đến việc hình thành chi Endogone năm 1808. Tiếp đó là chi Glomus do anh em Tulasne mô tả năm 1844. Đến năm 1849, tác giả Fries xây dựng nên họ Endogonaceae, sau đó họ này bị thay đổi do loài mới phát hiện có rất ít đặc điểm chung. Đây là thời điểm để hoàn thiện sự phân loại và phƣơng pháp nhận biết tất cả các loại bào tử của AMF.

Tuy nhiên, khi áp dụng phƣơng pháp này thì Gerdermann đã phát hiện ra rằng nhóm Endogone có số lƣợng loài rất lớn, cần phải xem xét lại và tác giả đã chia Endogone thành 7 chi với 3 chi không cộng sinh là Endogone, Modicella, Glaziella và 4 chi cộng sinh: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora (trong đó Gigaspora và Acaulospora là 2 chi mới). Với hệ thống phân loại của Gerdermann, Viện Nghiên cứu sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Ấn Độ đã phân 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lập từ đất vƣờn ƣơm 4 chi AMF: Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora và 1 chi không cộng sinh (Endogone) [36]. Năm 1982, Trappe và Schenck đã đề xuất đƣa 5 loài AMF ra khỏi chi Sclerocystics để hình thành chi mới Scutellospora [71], đến năm 1987 Walker cũng đề xuất nhƣ trên [74]. Năm 1990, tác giả Morton và Benny đặt 5 chi của Walker vào 3 họ: Glomaceae, Gigasporaneae, Acaulosporaceae và 2 bộ phụ: Glomineae, Gigasporineae, trong đó 2 bộ phụ này đƣợc đặt trong bộ mới Glomales [52].

Thông thƣờng, việc phân loại nấm rễ nội cộng sinh chủ yếu dựa vào các đặc điểm hình thái và cấu trúc của các loại bào tử. Một trong những cơ sở quan trọng để phân loại theo hình thái là bảng màu của Morton [51].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ