phần mở đầu và kết luận, đề tài đuợc kết cấu với 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và tổng quan về ngành thực phẩm và đồ uống Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Hàm ý chính sách Luan van 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG 1. HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh. Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
- Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Nhƣ vậy, hiệu quả đƣợc đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. - Quan điểm nữa cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tƣơng đối giữa kết quả và chi phí để đạt đƣợc kết quả đó.
Ƣu điểm của quan điểm này là phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên chƣa biểu hiện đƣợc tƣơng quan về lƣợng và chất giữa kết quả và chƣa phản ánh đƣợc hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. - Quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với ý nghĩa là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi ngƣời trong các doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh”. Quan điểm này có ƣu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là Luan van 6 không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân.
Nhƣng khó khăn ở đây là phƣơng tiện để đo lƣờng thể hiện tƣ tƣởng định hƣớng đó. Theo giáo trình Phân tích tài chính, Đại Học Đà Nẵng của PGS.TS Trƣơng Bá Thanh & TS.Trần Đình Khôi Nguyên (2009), “Hiệu quả kinh doanh” là xem xét hiệu quả sử dụng toàn bộ phƣơng tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ. Hiệu quả kinh doanh biểu hiệu mối quan hệ tƣơng đối giữa kết quả kinh doanh và phƣơng tiện tạo ra kết quả nên chỉ tiêu này thƣờng có công thức: Kết quả (Doanh thu, lợi nhuận,.) HQKD = Phƣơng tiện (Chi phí, tài sản, VCSH,. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh Theo công thức về hiệu quả kinh doanh nêu ở trên thì có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và mỗi chỉ tiêu thể hiện một ý nghĩa nhất định.
Hiệu quả cá biệt: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt đƣợc xây dựng cho từng quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phƣơng tiện, từng nguồn lực đƣợc sử dụng với kết quả mà doanh nghiệp đạt đƣợc. Hiệu suất sử Giá trị sản xuất = dụng tài sản Tổng tài sản bình quân Giá trị sản xuất NSLĐ năm = Số CNSX bình quân năm Luan van 7 Giá trị sản xuất NSLĐ ngày = Tổng số ngày làm việc của CNSX Giá trị sản xuất Số vòng quay = Vốn lƣu động bình quân b, Hiệu quả tổng hợp: Các chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng một cách tổng hợp tất cả các nguồn lực để tạo ra kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp Tỷ suất lợi Lợi nhuận trƣớc thuế nhuận trên = x 100% DT thuần + DT HĐTC + Thu nhập khác doanh thu Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận thuần HĐKD = x 100% trên doanh thu thuần Doanh thu thuần Tỷ suất lợi Lợi nhuận tuần HĐSXKD + Khấu hao TSCĐ nhuận HĐ = x 100% DT thuần + DT HĐTC + Thu nhập khác SXKD - Phân tích khả năng sinh lời tài sản + Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời Lợi nhuận trƣớc (sau) thuế = x 100% tài sản (ROA) Tổng Tài sản bình quân Luan van 8 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp trả lời câu hỏi: "Những gì doanh nghiệp có thể làm đƣợc với các tài sản mà doanh nghiệp có sẵn". Nếu nhƣ giá trị chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Do đó, tỷ suất sinh lợi của tài sản là kết quả tổng hợp của những cố gắng của doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, là kết quả của nỗ lực mở rộng thị trƣờng tiêu thụ, tăng doanh số và tiết kiệm các chi phí. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đƣợc sử dụng trong nội bộ của doanh nghiệp để theo dõi tình hình sử dụng tài sản theo thời gian, theo dõi hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình chung của ngành và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành. Patricia Fairfield và Teri Lombardi Yohn đã thực hiện một nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của tài sản. Họ đã chứng minh đƣợc rằng phân tích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của tài sản có vai trò quan trọng trong việc dự báo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tƣơng lai.
+ Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE) Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc nguồn vốn. Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh tế ở doanh nghiệp, còn có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lờii kinh tế của tài sản. Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay RE = x 100% Tổng Tài sản bình quân Luan van 9 Nói đến hiệu quả doanh nghiệp các nghiên cứu trên thế giới đều dùng thuật ngữ “Firm Performance” khái niệm này là một vấn đề gây tranh cãi về tài chính chủ yếu là do ý nghĩa đa chiều của nó.
Nghiên cứu về hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản lý chiến lƣợc (Murphy, Trailer & Hill 1996): Hiệu quả hoạt động đo lƣờng trên cả phƣơng diện tài chính và tổ chức. Hiệu quả hoạt động tài chính nhƣ tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của doanh nghiệp (Chakravarthy, 1986). Các biện pháp hiệu suất hoạt động, chẳng hạn nhƣ tốc độ tăng trƣởng doanh số bán hàng và tăng trƣởng thị phần, cung cấp một định nghĩa rộng hơn về hiệu suất khi họ tập trung vào các yếu tố cuối cùng dẫn đến hoạt động tài chính (Hoffer & Sandberg, 1987). Việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công ty mà mục tiêu này có thể ảnh hƣởng đến việc lựa chọn cách đo lƣờng hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán và thị trƣờng vốn.
Ví dụ, nếu thị trƣờng chứng khoán không phát triển cao và các hoạt động lúc đó chỉ tiêu đo lƣờng theo giá trị thị trƣờng không cung cấp một thông tin chính xác. Các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc lợi nhuận trên đầu tƣ (ROI). Những đo lƣờng hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại diện cho các chỉ số tài chính thu đƣợc từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đã đƣợc sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu (ví dụ, Mehran (1995), và Ang, Cole & Line (2000). Ngoài ra, còn có các đo lƣờng hiệu quả hoạt động khác đƣợc gọi là đo lƣờng hiệu quả hoạt động thị trƣờng, chẳng hạn nhƣ giá mỗi cổ phiếu với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (P/E), tỷ số giá thị trƣờng của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và Tobin Q.
Hai biện pháp kế toán, Luan van 10 ROA và ROE, đƣợc sử dụng nhƣ là chỉ tiêu cho hoạt động của công ty, và ba chỉ tiêu hoạt động thị trƣờng là P/E, MBVR, và Q. Hiệu quả hoạt động đo lƣờng bằng ROA và ROE thƣờng đƣợc sử dụng nhiều nhất. Trở lại với giáo trình “Phân tích tài chính” - Đại học Kinh tế Đà Nẵng, có viết hiệu quả của doanh nghiệp đƣợc xem xét một cách tổng thể bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính. Trong đó chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả tài chính là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Đây là một chỉ số đƣợc sử dụng để dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tƣ khác nhau nhƣ tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh…chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tƣ đƣa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng. Nhƣợc điểm lớn nhất của chỉ số ROE là nó có thể dễ dàng bị bóp méo bởi các chiến lƣợc tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp. Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán đƣợc vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hƣởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tƣ vào dƣ nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện đƣợc đáng kể chỉ số ROE. Trong khi đó chỉ số ROA có tính đến số lƣợng tài sản đƣợc sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh.
Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình.Không giống ROE, đo lƣờng tỷ suất sinh lợi của tài sản ROA bao gồm tất cả các loại tài sản của một doanh nghiệp, nghĩa là tổng tài sản đƣợc sử dụng chứ không phải là tài sản thuần (bao gồm vốn cổ đông, vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá, các quỹ dự trữ phát triển dự phòng).