CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1. Những vấn đề cơ bản về năng lực của đội ngũ cán bộ: 1. Năng lực của đội ngũ cán bộ Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Năng lực có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển.
Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Boyatzis (1982) cho rằng: năng lực chính là những đặc tính cơ bản của con người giúp cho con người thực hiện công việc có hiệu quả. Năng lực giải quyết công việc bao gồm động cơ, cá tính, kỹ năng, kiến thức, tự nhận thức về chính bản thân hoặc vai trò xã hội. Wynne (1997) thì cho rằng “năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích luỹ và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc”.
Keen (2000) cho rằng: Từ “năng lực” có nguồn gốc từ tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là sự nhất trí, hòa hợp hiểu theo nghĩa nhất trí, hòa 5 hợp giữa tình hình, kết quả thực hiện, nhiệm vụ và khả năng. Cụ thể hơn, năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Batal (2002) cho rằng: Năng lực làm việc được hiểu là kiến thức, kỹ năng và hành vi – thái độ cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc. Kiến thức bao gồm hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể.
Kỹ năng là khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải quyết công việc. Thái độ - hành vi: thái độ, hành vi của bản thân người làm việc. Chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân. nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.
Với cách hiểu này thì chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là có năng lực mà cả ba yếu tố này phải được vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng Nxb giáo dục ấn hành thì năng lực được hiểu là "khả năng làm việc tốt". Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. Tức là năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó.
(2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Nghĩa là năng lực là sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. 6 Phạm Xuân Hùng (2014) nhận định: Năng lực là sự kết hợp, hòa trộn giữa tiềm năng của cá nhân với đòi hỏi của nhiệm vụ + yếu tố văn hóa và những đặc điểm cụ thể của bối cảnh.để hoàn thành một công việc nhất định. Có thể thấy năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau.
Trong những điều kiện bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có thể tiếp thu những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo với nhịp độ khác nhau. Có người tiếp thu nhanh chóng; có người phải tốn nhiều thì giờ và sức lực; ở người này có thể ở mức điêu luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình. Năng lực cũng là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương đối dễ dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy một cách có kết quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân.
Người có năng lực sẽ thể hiện sự hứng thú đối với công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động cao. Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động. Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học, toán học.
Như vậy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết tốt một tình huống có thực trong cuộc sống. Từ những phân tích trên, Luận văn quan niệm: Năng lực của đội ngũ cán bộ là tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động của văn phòng tỉnh uỷ đạt được những kết quả cao. Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực của đội ngũ cán bộ công chức 1. Các yếu tố cấu thành năng lực đội ngũ cán bộ công chức * Phẩm chất chính trị, đạo đức Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Trong thời đại ngày nay, đạo đức được nâng lên tầm cao mới, là đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng không chỉ là đạo đức đơn thuần về mặt xã hội mà còn được hiểu theo một khía cạnh khác đó là đạo đức của tư duy sáng tạo. Đó là, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc. Do đó, cán bộ Văn tỉnh uỷ trong thời đại mới phải luôn có và trau dồi, bồi dưỡng đạo đức cách mạng.
* Năng lực trình độ chuyên môn Năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức thể hiện ở kiến thức chuyên môn về lĩnh vực được giao trách nhiệm quản lý, ở sự tinh thông về các nghiệp vụ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Năng lực này được hình thành thông qua giáo dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo dài hạn. Năng lực này còn được hình thành từ hoạt động thực tiễn. Biểu hiện rõ rệt nhất và năng lực chuyên môn chính là khả năng giải quyết các vấn đề chuyên môn của cán bộ, công chức.
* Năng lực tư duy chiến lược, tư duy tổng hợp Người cán bộ, công chức phải là người có bản lĩnh, có năng lực tư duy chiến lược, tư duy tổng hợp có khả năng quan sát, nắm bắt được nhiệm vụ từ tổng thể tới chi tiết để tổ chức cho hệ thống hoạt động có hiệu quả; Bản lĩnh, tự chủ nhưng quyết đoán dứt khoát trong công việc, có kế hoạch làm việc rõ ràng và tiến hành công việc theo kế hoạch đã đề ra. 8 Tư duy chiến lược thể hiện ở tư duy khoa học, ở tầm nhìn xa trông rộng, ở việc nắm bắt thời cơ và thách thức. Tư duy tổng hợp là tổng thể rất nhiều các yếu tố cả về đạo đức xã hội, trình độ học vấn, văn hoá, kỹ năng giao tiếp, tư duy phân tích.Là cán bộ, công chức Văn phòng tỉnh uỷ đòi hỏi mỗi người phải có kiến thức tổng hợp trên nhiều mặt, hiểu biết rộng để tham mưu, phục vụ Lãnh đạo và hướng dẫn người dân * Năng lực ngoại ngữ, tin học Chức năng cơ bản của Văn phòng là tiếp nhận cung cấp thông tin về tình hình kinh tế xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo. Việc thực hiện chức năng này có tốt hay không, trước hết phụ thuộc vào tính thường xuyên, kịp thời và chính xác của thông tin.
Tin học hoá công tác không chỉ giải quyết được vấn đề xử lý và cung cấp thông tin nhanh chống, thuận lợi mà còn tăng năng suất lao động, tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý. Trong xu thế hội nhập ngày nay, việc nâng cao kiến thức, bồi dưỡng về ngoại ngữ là một yêu cầu cần thiết, cần được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. * Năng lực lý luận chính trị Lý luận chính trị không chỉ giúp cán bộ, công chức nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống mà còn trang bị những kiến thức cơ bản cho họ về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là giúp đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, cán bộ văn phòng tỉnh uỷ nói riêng ý thức được trách nhiệm công vụ, rèn luyện tư cách, phẩm chất đạo đức của người cộng sản, tỏ thái độ rõ ràng trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, lãng phí và tham nhũng trong bộ máy nhà nước.
Tiêu chí đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ công chức * Tiêu chí định lượng 9 Kết quả xử lý, mức độ hoàn thành công việc: Từ số lượng tiếp nhận, tham mưu, ban hành các văn bản thuộc nhiệm vụ được giao, đặc biệt chú trọng vấn đề chất lượng, thời hạn tham mưu, xử lý các văn bản được ban hành. Kết quả công tác tham mưu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội thể hiện qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu ngành, lĩnh vực và vấn đề đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh. * Tiêu chí định tính Tiêu chí định tính được phản ánh thông qua các tiêu chí sau: Tinh thần, thái độ phục vụ, giao tiếp công sở: sự hài lòng, thoả mãn của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan thể hiện thông qua tỷ lệ thuyên chuyển, nghỉ việc; và nhận định của nhân viên về mức độ hài lòng của họ đối với cơ quan, công việc, môi trường làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến, lương bổng.